Thứ Bảy, 6 tháng 7, 2013

Chiếc lá


Bùi Hiển
            Chiếc lá ấy chưa bao giờ chịu đành phận làm một chiếc lá thui chột hoặc tàn úa, dính lỏng lẻo trên cành. Em muốn góp phần chuyển chút nhựa làm nên hoa trái của cuộc đời. Đối với tôi, em mãi mãi là chiếc lá xanh non căng nhựa, một há vọng hoa thơm và quả ngọt, một khát vọng đẹp tươi không bao giờ tắt, không gì có thể phai mờ".
            - Tôi giừ thì thủ phận, cốt sao đỡ gánh nặng cho xã hội là may rồi... Cái lá tre rụng ngoài ngõ còn có tác dụng hơn tôi. Ngồi trên nền đất, cô gái buông từng tiếng đều đều về phía ngọn lửa bếp có nồi cám lợn đang bốc hơi. Chốc chốc o ta khẽ quay người vơ nắm rạ, dùng que cời gẩy gẩy cho lửa cháy rần lên, rồi lại trở về với công việc thứ hai của mình, tí tách bẻ những củ khoai chuối bỏ vào chiếc rổ sảo để cạnh.
            - O Lựu bi quan thế không nên. Mà không đúng đâu. Sống trên đời, có làm việc là có góp phần cho xã hội, chứ sao lại là gánh nặng. Dứt lời, Hòa cảm thấy ngay câu an ủi của mình sao nhạt nhẽo. Nó có nghĩa lý gì, so với nỗi buồn khổ lắng sâu của người con gái. Anh bỏ bút, vẩn vơ nhìn về phía bếp lửa. ánh đỏ viền lên bầu má của Lựu một vành cong màu hồng sẫm, bập bùng chấp chới bên búi tóc nặng và một bên vai áo nhuộm nâu bầm. Cái thân hình béo đậm ngồi thu tròn một khối, hơi còng xuống. Hòa muốn thêm một câu gì để xóa cái đãi bôi gắng gượng của điều mình vừa thốt. Biết nói gì kia chứ? An ủi suông thì có ích lợi gì. Trong khi đó, những lời xót xa mà người con gái trẻ ngồi xây lưng lại anh vừa tâm sự, như chỉ để nói cùng ngọn lửa, vẫn còn gây một âm vang não nề, từng tiếng từng tiếng buông rơi vào lửa, không cháy vèo đi mà dường như thêm nóng bỏng. Không, cũng không hẳn là nóng bỏng. "Cái lá tre rụng ngoài ngõ còn có tác dụng hơn tôi..." Giọng o ta đều đều bình thản lạ lùng, không vui đã đành, cũng không buồn, o ta chỉ như nói lên một điều nhận xét hoàn toàn khách quan, một sự thật mà o đã nghiền ngẫm, thấm thía, đã tin rằng không thể nào thay đổi. Chính cái bình thản ấy càng thêm não lòng xiết bao. Hòa im lặng. Tiếng những củ khoai đòn gẫy đôi gẫy ba, tí tách. Anh biết rằng chỉ có cách lặng im, để mặc cho cơn buồn nản của người con gái vợi dần và trôi qua, như trời thu gợn đám mây mù, tự nó sẽ tản nhòa các hướng.
* * *
            Hòa vừa đổi về đây chưa được bao lâu. Anh trọ nhà một em học Sinh con một bác quản trị hợp tác xã. Căn nhà năm gian mát mẻ thoáng đãng, gia đình lại ít trẻ con, được vài hôm, chỗ ăn ở và làm việc bắt đầu ổn định thì bất ngờ một lớp mẫu giáo dọn đến ngay cạnh nách. Tiếng trẻ em ê a múa hát nghe cũng vui vui nhưng khiến trí nghĩ khó tập trung. Phải tạm lùi một bước!
            - Hòa vui vẻ quyết định, và anh lần sang thăm thú một gia đình ở xê xế phía sau vườn, ít ra để nhờ một chỗ thỉnh thoảng sang ngồi soạn hoặc chấm bài, nhà này trông có vẻ văng vắng. Quả trong nhà chỉ vẻn vẹn có hai vợ chồng già và một cô con gái. ông cụ, ống tay áo còn lấm tấm mấy vệt bùn khô, tiếp anh niềm nở, hơi trọng vọng nữa, cứ một thầy hai thầy, hình như ông còn giữ cái nền nếp trọng học của đất nhà nho cũ. Bà mẹ như để giải thích cảnh nhà neo đơn, kể: có một con trai đầu, hiện đi bộ đội, một người con gái thứ hai đã lấy chồng, hai vợ chồng cùng làm việc ở một nông trường trên miền ngược, còn con Lựu đây là út, lớn rồi mà nhác mần lắm, chỉ ăn rồi nhởi thôi, đang phải giữ ở nhà để kèm cặp đã! Nghe mẹ nói vui, cô gái ngồi xây lưng ở đằng góc bếp thốt lên tiếng cười nhỏ trong cổ họng. Kể o ta cũng trắng thật:
            - Hòa liếc nhìn chiếc gáy của cô gái, nhận xét:
            - Con gái nông thôn mà béo trắng như cục bột vắt để đó! Lúc bấy giờ o ta đang đun xanh canh thì phải. O lại còn tẩn mẩn tước những chiếc lá gì giống lá tre nhưng dài và to bản hơn, tấp thành đống nhỏ cạnh người.
            - Lá gì đó o?
            - Hòa hỏi để bắt chuyện.
            - Lá muồng muồng, ở trên rú.
            - Lấy về đun à? Sao lại phải xé nhỏ ra thế kia? Câu hỏi ngớ ngẩn khiến người con gái bật lên cười rất giòn.
            - Trước để bán cho Mậu dịch đó thầy ạ. Mậu dịch họ lại thuê người ta bện thành... thành những cái chi bán ra nước ngoài, làm cái chùi chân. Các nước họ bước vô nhà phải xát xát chân cho sạch đã, không phải như ta đi thẳng vô nhà đâu! Đến lượt Hòa bật cười về cách nói ngộ nghĩnh của cô gái.
            - Cái thảm à?
            - Đúng cái thảm đó.
            - Ông cụ xác nhận.
            - Hợp tác xã khoán cho mỗi cân là hai bao rưỡi.
            - Mỗi ngày o tước được mấy cân, o Lựu?
            - May ra thì được một cân, chưa đủ tôi nuôi tôi.
            - Trong giọng cô gái, bỗng chen cái gì khác lạ, Hòa chưa kịp phân tích ra.
            - Sức vóc o, đi làm đồng có khi thừa thóc nuôi cả cụ mẹ!
            - Rứa đó!
            - Cô gái liền đáp, chẳng rõ ý ra sao. Khuôn mặt ông cụ bỗng như hóp lại và già sọm đi, ông thong thả cất tiếng:
            - Con tôi, hắn... Nhưng Lựu không để ông cụ nói hết, o cướp lời:
            - Mẹ tôi có chịu cho tôi ra đồng làm đâu thầy! Tôi là một con mù! Hòa sững đi. Làm sao bây giờ, anh không nhận thấy rằng những cử động của người con gái có vẻ gì hơi chậm chạp, dài dại? Anh hối hận vô cùng về cái câu vừa nói, vô tình nó đượm một ý khiêu khích cay chua.
* * *
            Về sau Hòa biết thêm: Lựu bị hỏng mắt từ năm lên bốn. Đứa bé mù vượt qua tuổi thơ ấu không đến nỗi khó khăn. Được cả nhà săn sóc chiều chuộng, trong trí óc đơn giản của nó, có lẽ nó cho rằng mỗi con người ta sống, là tự nhiên có mọi thứ sẵn bên mình, cũng như cơm của nó được đưa tận môi, nước kề tận miệng. Khoảng mười một mười hai, vừng trán con bé Lựu bắt đầu thoáng nét âu sầu. Đó là vào những ngày cả nhà đi làm vắng. Rồi bỗng một hôm nó nằng nặc đòi theo mẹ đi cấy. Bà mẹ đành phải dắt con cho ra ngồi ở đầu bờ: ở nhà một mình, nó buồn sợ. Mười tám tuổi, Lựu rất thích được đi chăn trâu thay anh chị. Phải chăng không khí thoáng đãng ngoài đồng cỏ đánh loãng được ít nhiều cái đêm tối vô cùng tận đè chụp lên đầu nó. Giờ đây, Lựu vừa chẵn hai mươi. Hôm đầu tiên Hòa sang ngồi làm việc, người con gái khẽ ngẩng đầu như nghe ngóng bước chân của anh, rồi lẳng lặng đi rót một bát nước chè tươi còn bốc khói, bưng hai tay đặt lên bàn. Xong, o trở về chỗ góc bếp của mình, bê nồi cám ra chuồng cho lợn ăn. Lát sau thoáng thấy bóng o ta lúi húi hái rau nhổ cỏ gì ngoài sau vườn. Suốt buổi coi như o không nói lấy một tiếng. O ta hơi trầm lặng quá đấy!
            - Hòa nhận xét, rồi chợt anh khám phá ra chính anh cũng quá tiết kiệm lời, việc bài vở của một giáo viên đâu đến nỗi phải mải mê đến thế! Ngày hôm sau anh thử bắt chuyện. Người con gái, lúc đầu, ngờ ngợ nhìn anh.
            - Nghĩa là o ta khẽ quay đầu, nghiêng một bên tai như ngẫm nghĩ xem cái điều người ta vừa nói có đúng là nói với mình không. Rồi o vui vẻ đáp lời. Hóa ra Lựu cũng thông tỏ khá nhiều chuyện trong làng, từ việc hợp tác xã, việc đội, đến việc nhà ai bị bom cháy, con nhà ai được đi thi học Sinh giỏi toàn tỉnh. Đôi khi Hòa có ấn tượng câu chuyện của người con gái mù hơi có vẻ líu la líu lo một chút, như trẻ con phô chuyện. Bỗng, một lúc nào đó, o ta ngừng bặt, thốt tiếng cười trong cổ họng theo thói quen.
            - Tôi phải cái tội hay nói hay phô, mà hay nói thì hay sai, phải không thầy. Cứ bô lô ba la, thầy không mần việc được.
            - Bài tôi xong cả rồi.
            - Hòa vội đáp. Và anh chợt hiểu cái dè dặt ý tứ của Lựu hôm đầu. Những ngày sau cũng vậy, Lựu chỉ chuyện trò khi anh gợi đầu tiên. Người con gái hay nhắc đến mấy mét vải phin, mỏng mịn, o vẫn cất dành trong rương làm của, không may chi hết, may mặc rồi nó mòn rách, uổng: mấy mét vải ấy là của Bác Hồ cho. Chao ôi, Bác thương đến cả những người neo đơn, tàng tật. O lại khoe cha con o chăn của hợp tác một con bò, béo lắm. Trước đây hợp tác trợ cấp cho Lựu ngày hai hào, thêm vào khoản tước lá muồng cho đủ ăn, được hai tháng, Lựu không chịu nhận trợ cấp nữa, đòi nhận bò về nuôi.
            - Cha tôi thương tôi cứ giành lấy chăn, hai cha con chăm sóc con bò, đến khi thi được nhất đội, họ thưởng cho cái bát hoa đẹp lắm, cái bát thầy đang uống đó. Giọng phô chuyện của cô gái quả có cái gì còn rất trẻ nít thơ ngây. Hòa đăm đăm nhìn những chấm xanh đỏ nổi trên nền men trắng chiếc bát. Với Lựu, thế nào là một chiếc bát hoa? Một chiếc bát hoa đẹp lắm? Người con gái làm sao còn lưu giữ được trong trí nhớ cái bóng dáng xa xôi, mờ ảo, về một nụ hoa nào đó của tuổi ấu thơ, liền ngay sau đã bị cái đêm đen mênh mông của tàng tật trùm phủ? Chắc hẳn o ta chỉ lặp lại, như đứa trẻ học nói, những điều ta nghe đã thu nhận được từ miệng người ta. Đối với o, hoa đẹp là thế nào? Trong trí tưởng tượng người mù, sắc màu rực rỡ hoặc dịu dàng, hình nét nhẹ thon của một cánh hoa được mơ hồ gợi lên như thế nào qua một mùi hương bay thoảng?
            - Hắn cứ nằng nặc đòi nhận thêm con bò nữa đó, thầy ạ.
            - Ông cụ vừa đi tưới cây ngoài vườn phụ lão về, ngồi vào bếp châm lửa hút thuốc, góp chuyện.
            - Để chăn cho luôn một công.
            - Không phải!
            - Lựu liền cãi lại.
            - Để tôi chăn riêng!
            - Mi chăn làm của riêng à?
            - Ông cụ nói trêu và cười khà khà, sau khi rít một hơi thuốc lào dài.
            - Của riêng đó!
            - Cô gái láy lại.
            - Lần ni thì cha không được giành! Vừa nói o vừa nghiêng đầu áp má vào vai bố như một đứa trẻ nhỏ, vuốt ve và vỗ vỗ nhẹ vào lưng bố.
            - Mi chăn mà để bò ăn lúa của người ta, thì công không đủ nạp phạt đó! Đừng có tưởng! Chắc hẳn ông cụ chỉ nói dọa để trêu đùa. Nhưng o con gái, đang vui, tự dưng ắng lặng đi. Hòa thấy đầu o ta gục xuống, như thể bị cái búi tóc to đè trĩu. Tấm lưng béo nẫn cong vòng như một cái vòm. O càng áp dụi một bên mặt vào cánh vai bố, tìm chỗ tựa chăng, hay để giấu một giọt nước mắt thầm? Cô gái tàng tật quả là mau xúc động quá chừng. Hòa có chút an ủi khi nghĩ, sự có mặt của anh cũng khiến o con gái đỡ cô đơn, trong lúc mọi người đi làm vắng. Không phải anh tự huyễn mình đâu, Lựu quả có vui vui khi cảm thấy có anh làm việc bên cạnh. Vẫn e dè kín đáo, o chỉ bắt lời khi anh khơi chuyện trước, nhưng dù khi không nói, cả con người của Lựu dường như cũng có chút gì linh hoạt hơn, cử động dường như ít nhiều thêm nhanh nhẹn, chính xác. Một lần, nhân ghé trong xóm có việc, anh trở về nhà Lựu không qua cổng mà băng tắt chỗ vườn sau đi vào. Thoáng thấy bóng cô gái, anh nẩy ý đứng khựng lại, thử xem thính giác người mù quả có tinh nhậy hơn không. Người con gái ngửng đầu, chờ đợi. Cặp môi o dường như khẽ mấp máy. Hòa cố ý chậm rãi bước vào phía cửa bếp. O ta bật hỏi:
             Thầy Hòa đã sang đó phải không?
            - Tôi đây. O Lựu nhận ra tiếng chân của tôi à?
            - Có chớ. Ai đi mà tôi nỏ biết. Bước chân của thầy hiền. Ngừng một chút, o nói thêm, như để bổ sung:
            - Nghiêm mà hiền. Hòa bật cười. Cái thế giới người mù, chắc nó có những điều bí ẩn kỳ lạ, Hòa nghĩ bụng. Sự nhận thức và suy nghĩ của họ hẳn là ít nhiều bị hạn chế: dựa trên trực giác, trên một cách luận lý riêng, nó có thể rất đúng, cũng có thể rất sai. Vừa mới chiều qua, giữa một câu chuyện bình thường, tự dưng anh nghe cô gái nói:
            - Té ra thầy Hòa chuyên dạy văn à? Thầy dạy hay hay là.
            - Hay thế nào? O nghe tôi giảng khi nào?
            - Tôi có ra trường đâu mà được nghe thầy giảng?
            - Thế o nghe các em nó nói à?
            - Hòa gợi, trong thâm tâm không phải không muốn chờ nghe một dư luận tốt về công việc giảng dạy của mình.
            - Không.
            - Cô gái đáp liền, cắt ngang cái hào hứng vừa chớm nẩy của anh giáo viên trẻ:
            - Tôi nghe các em nó học thôi. Bọn nó học thơ ông Tố Hữu, nó bảo là thầy Hòa dạy. Thơ hay thì thầy giảng cũng phải hay chớ!
            Đôi khi bà mẹ nhìn Hòa với con mắt là lạ, như muốn nói điều gì mà không tiện nói, bà mong chờ anh đề xướng trước cái việc ấy ra. Một hôm bà bưng đĩa khoai lên mời anh, rồi đứng xa xẩn vịn tay vào cột, bà hỏi:
            - Ở đây đã lâu mà chưa thấy thầy về thăm nhà, hè?
            - Đầu học kỳ, còn bận bịu lắm mẹ ạ. Với lại lán trường, mới dọn đến cũng phải tổ chức lại, thằng Mỹ nó gây cho mình cũng lắm cái chuyện phiền phức ra trò.  
            - Đường thầy về nhà cũng qua gần chỗ huyện thì phải.
            - Gần lắm mẹ ạ.
            - Bữa nào thầy có về, cho tôi gởi cái gói con con. Tôi có bà mự cũng ở ngay chỗ huyện, bà cứ nhắn lên nhởi, đem cho bà ít hạt cải giống... Bữa nào con Lựu có đi huyện thì rồi cũng phải nhờ vả nơi bà. Chẳng rõ Lựu có việc gì mà phải lên huyện, lại giữa lúc bom đạn này. Mắt anh chợt bắt gặp cái nhìn đượm vẻ cầu mong của bà mẹ. Đột nhiên anh hiểu ra.
            - Dạ.
            - Anh vội nói:
            - Có gì mẹ cứ gửi, cháu sẽ chuyển tận tay. Nhân tiện cháu cũng ghé chỗ bệnh viện thăm người anh họ một chút. Mắt bà mẹ ánh lên tia sáng, rồi mi mắt lại cụp ngay xuống, bà nở một nụ cười không ra vui cũng không ra buồn. Vừa qua nhân câu chuyện gì đó, Hòa có nhắc tới một ông anh họ hiện làm bác sĩ ở bệnh viện huyện, vốn học về khoa mắt. Hình như anh cũng có hứa để rồi có dịp sẽ nhờ khám hộ cho Lựu, may ra... Lúc hứa, anh nghĩ đấy là chuyện về lâu về dài, ít ra cũng phải chờ cho qua cái đận tàu bay tàu bò này đã, đường ạy lúc này nguy hiểm, bệnh viện lại đang phải tập trung cứu chữa những người bị thương. Chứng bệnh của Lựu thì đã thành cố tật, có chữa cũng phải công phu lắm.
            - O Lựu cho xem thử con mắt hiện giờ ra sao nào, để tôi còn báo cáo với bác sĩ. Tôi cũng kiêm tý y tá nửa mùa đây.
            - Anh chêm câu nói vui.
            - Con để thầy coi thử con.
            - Bà mẹ nhắc. Lúc bấy giờ Lựu đang ngồi tước lá muồng. Bà mẹ đưa hai tay ôm má con gái quay nghiêng ra phía ánh sáng chiếc cửa vách. Mi mắt Lựu chớp chớp, đầu phác một cử động như muốn cưỡng lại. Hòa đặt khẽ đầu ngón tay lên thái dương o, thử nhìn. Nhưng anh không thấy gì hết, làm sao anh còn nỡ nhìn, còn nỡ soi mói vào cái tàng tật của cô gái trẻ! Hai gốc lông mày o rung chuyển dữ dội, làn da dưới đó giật giật, như đỏ lên. Cả bà mẹ cũng vội buông tay, như thể bị cái hơi thở dồn của con gái phả lên da mình nóng bỏng. Nét mặt bà co rút, xúc động chẳng kém gì nét mặt người con gái. Hòa tự trách, sao tự dưng lại nẩy ý tò mò tai hại làm vậy.
            - Cũng có thể... cũng có thể là... khoa học bây giờ chắc người ta chữa được.
            - Anh nói hấp tấp, tâm trí vẫn đang bị xoáy trong ý nghĩ: sỗ sàng, mình thật sỗ sàng quá thể! Không gì có thể biện minh được! Luôn hai hôm sau, anh không sang nhà Lựu. Anh muốn để cho chuyện đó phai nhòa dần đi đã. Vả chăng anh cũng mắc bận thật sự: anh phải đi gặp một số phụ huánh học Sinh, nhân thể tìm một địa điểm dự bị cho nhà trường, vì cái chỗ vừa dọn đến xem ra cũng chưa ổn lắm. Chiều hôm ấy, anh về muộn. Trời đã tối hồi lâu, và trong lúc anh về gần đến nhà, một mảnh trăng chênh như chiếc miệng cười bỗng lấp ló sau rặng thông và bạch đàn phía đồi xa. Anh bước chậm lại một chút. Những lo nghĩ bận rộn, trong ánh trăng mờ ảo, tự dưng như mất đi rất nhiều cái sức trĩu nặng. Cảm thấy đầu ngực nhẹ nhõm, anh hít thở một hơi dài. Bấy giờ anh mới nhận ra, bao nhiêu hương vị ban đêm đã cùng dậy lên một lúc, như do cái ánh biếc ẩm ướt kia khơi động, mùi thơm hoa gì đang đậu quả hay chỉ là của những loài cây cỏ không tuổi không tên, anh cũng chẳng còn để ý phân biệt. Giữa lúc đó, anh thoáng thấy bóng Lựu đi về phía mình.
            Làm sao từ xa anh đã tin chắc đó là Lựu? Người con gái đi đâu một mình giờ này trong ngõ vắng? Quả là Lựu, không sai, bóng trăng lọt qua kẽ lá đập loang lổ lên mặt và vai cô gái, nước da o vốn trắng lúc này càng trắng xanh lên kỳ lạ, y như màu men tượng sứ. Bước chân o vừa chập chững lần đường vừa có dáng vội vội. Hai bàn tay mở hờ, giơ giơ trước bụng dò tìm lối. Mình có nên lên tiếng không?
            - Hòa phân vân tự hỏi. O ta cần đi đâu, anh sẽ sẵn sàng đưa đi. Nhưng lại phải xem o có cần sự giúp đỡ của anh không đã chứ. Nhanh nhẩu quá, khéo lại gây cho o điều ngỡ ngàng bối rối... Bây giờ anh đã nghe được cả hơi thở dồn của Lựu, dấu hiệu cố gắng của bước đi dò dẫm. Gương mặt cô gái khẽ ngước, càng sáng bóng lên, vầng trán phẳng đượm một vẻ chú tâm kỳ lạ chưa bao giờ thấy, có chút gì như mê mải nữa, hai gò má trắng trẻo dường như cũng ửng chút màu hồng. Mặc dầu bước chân quờ quông, tất cả dáng người cô gái hướng thẳng về phía trước, tới một cái đích nào đó rất rõ ràng, một nơi hẹn định sẵn. Tốt hơn hết là cứ làm như không gặp... Hòa nhè nhẹ rảo bước, vượt ngang qua, lặng lẽ.
            - Ai đó? Tiếng hỏi đột ngột của Lựu khiến anh bước chậm lại.
            - Phải thầy Hòa đó không?
            - Tôi đây.
            - Anh đáp, sau một chút ngập ngừng.
            - Chao ôi, thầy Hòa! Trong tiếng kêu cô gái thoáng một chút mừng rỡ.
            - O Lựu đi đâu khuya thế?
            - Khuya chi! Trăng mới lên đó thôi! Tôi đi... tôi đi ra... Hòa nghe một tiếng cười nhỏ rích trong cổ họng.
            - Thầy Hòa, thầy có bận chi không? Đưa tôi ra chỗ Dăm Phe một chút, được không thầy?
            - Ra đâu?
            - Dăm Phe, ngoài chỗ mương nước ấy mà.
            - Ra để ăn bom à!
            - Hòa kêu lên.
            - Tàu bay hắn về ngủ cả rồi.
            - Nhưng o ra ngoài ấy làm gì mới được chứ. Cụ mẹ mà biết thì...
            - Cha đang đi họp. Tôi trốn mẹ tôi đi đây.
            - Tiếng Lựu cười rúc rích, có một vẻ thích thú trẻ con.
            - Thầy về đừng mách mẹ, nghe! Thôi để tôi đi một chắc.
            - Được, nhưng lỡ có chuyện chi thì nhớ báo gấp để tôi còn ra cáng về!
            - Không lo, thiếu chi chị em ngoài ấy. Thầy không nghe thấy à?
            - Nghe thấy gì? Cô gái lặng im, như để anh tự nghe ngóng lấy. Đêm lặng vắng hoàn toàn, ánh trăng ngưng đọng giữa lưng chừng trời, im phắc. Bỗng Hòa sực nhớ, hồi trưa có tiếng một tốp thanh niên họp chớp nhoáng với nhau chỗ nhà trẻ, bàn kế hoạch tối đi tát nước, ừ đúng rồi, ngoài cánh đồng Dăm Phe, chỗ này vừa qua địch đánh nhiều trận, mương nông giang bị đứt. Lắng tai, quả có những âm thanh vẳng từ rất xa, từng mẩu, từng mẩu vụn, chẳng biết có thật thế không, hay chỉ do tưởng tượng cố tạo ra.
            - O Lựu cũng định ra chống hạn đấy à?
            - Tôi ra chơi coi thử... Họ có cho tát thì tôi tát, tôi cũng tát nước được, không thì tôi guồng. Lỡ máy bay đến thì sao, anh em sẽ thêm bận bịu vì Lựu. Nhưng Hòa không nỡ nói ý nghĩ ấy ra. Anh lặng ngắm gương mặt náo nức của cô gái, làn môi hé với nụ cười phảng phất. Lẽ nào lại can ngăn, khuyên o nên trở lại! Trong một thoáng anh nẩy ý muốn tự mình dẫn cô gái đi, nếu cần thì bảo vệ cho o. Nhưng như thế có điều không tiện.
            - O Lựu chờ đây tí nhá, tôi ra ngay. Anh bước nhanh, rẽ vào nhà một em học Sinh ở gần đó, gọi em ra sân, bảo:
            - Thầy nhờ em một việc. Cô Mai có hứa cho thầy mượn cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du, em ra lấy hộ cho thầy. Nhân tiện o Lựu có việc ra Dăm Phe, em đưa o đi một chút, o đang đứng chỗ cây mưng nhà bà Tấn ấy. Lấy được sách em đưa về ngay cho thầy nhá. Chú bé gật đầu, phóng ra cổng trên đôi cẳng gà choai, có vẻ vui thích nữa vì được thầy chọn giao nhiệm vụ. Anh về nhà được một lát, vừa ăn xong bữa cơm để phần thì thấy em học Sinh trở về, trao cho anh cuốn sách. Còn thở phập phà phập phồng.
            - Chắc chú chàng đã chạy hoặc bước rất nhanh -em kể:
            - Ngoài Dăm Phe họ tát nước đông lắm thầy ạ. Họ đang đắp lại cả cái mương. Hòa không hỏi gì thêm, coi đó là một cách chú bé báo cáo đã đưa Lựu ra đến nơi đến chốn. Mệt, anh đi nghỉ sớm. Anh nằm quay đầu ra phía cửa sổ vách, ngắm nhìn ánh trăng suông dãi đầy vườn. Anh hình dung cảnh đồng đêm rộn rịp tấp nập, bóng người gánh đất chạy thoăn thoắt, ánh nước tuôn từ gầu tát lấp lóa trăng, những mảnh trăng lấp lóa một lúc nào đó mờ đi, ngưng đọng lại, kết thành một gương mặt bầu bầu, gương mặt của Lựu, trắng trẻo, hơi xanh bóng nữa tựa hồ như màu men tượng sứ, Lựu đang tỳ tay thong thả đạp guồng, ngước nhìn náo nức bằng một thứ thị giác bên trong, bằng tóc, bằng da, bằng cái hơi đêm thu mát tỏa ấp mơn man, bằng mọi âm thanh xôn xao, rầm rột. Điều kỳ lạ, máy bay địch đêm nay vắng hẳn. Lúc đầu hơi nơm nớp lo cho Lựu và đám thanh niên, về sau Hòa yên tâm hẳn, một thứ yên tâm không căn cứ, vì biết đâu trong phút chốc, cái thanh vắng xóm khuya lại chẳng bị những tiếng nổ bất thần xáo động lên tất cả. Nghe rõ cả tiếng quạt đập phành phạch, phía sân nhà Lựu. Chắc ông cụ đi họp về. Tiếng hai ông bà nói chuyện rì rầm, thỉnh thoảng ông cụ theo thói quen lại đập đập chiếc quạt to tướng do ông phiết lấy dày cộp vào cẳng chân xua muỗi. ông cụ nói một câu gì, chắc ông kể chuyện họp. Bà cụ đáp một câu ngắn.
            Lặng đi một lát khá lâu, rồi ông cụ lại lên tiếng, hai ông bà già cứ thế lúc chuyện trò lúc ngồi ngẫm nghĩ một cách yên lành, bụng hẳn yên trí là cô con gái út đã ngủ say trong buồng từ lâu. Khuya lắm, bóng cây cam đã thu tròn một vành quanh gốc, Hòa mới nghe có tiếng chân bước xào xạc phía bên chái nhà. Qua song cửa, anh thấy thoáng bóng Lựu đi vào cổng, có hai cô bạn ôm lưng khoác tay dìu hai bên. Cả ba đứng dừng lại một chút. Qua những cử động của đầu và vai nghiêng nghé, anh đoán các cô đang trò chuyện thì thào, kiểu như đang bàn tính một âm mưu gì thú vị. Lúc này ông cụ bà cụ đã đi nằm, nhưng không biết đã ngủ chưa. Lựu còn phải rất chú ý khẽ khàng, nếu không sẽ lộ chuyện mất. Hòa mỉm cười một mình, thoáng chút thích thú là mình cũng có dự phần ít nhiều vào cái âm mưu thầm vụng ấy. Rồi anh ngủ thiếp đi. Trưa hôm sau, nhận thấy bà mẹ sang xin lửa thổi cơm anh báo tin:
            - Có lẽ chủ nhật này cháu về nhà một tí. Còn như bận thì chủ nhật sau thế nào cháu cũng về. Cầm nùn rơm bốc khói trong tay, bà mẹ đứng dừng nhìn anh với cái vẻ nhìn cầu mong lặng lẽ mà anh đã quen thấy.
            - Để cháu sẽ ghé chỗ huyện hỏi qua ý kiến ông bác sĩ xem thế nào. Chợt nẩy thêm một ý, anh tiếp luôn:
            - Hay thế này. Tiện có xe đạp, cháu cho o Lựu lên cho ông ta trực tiếp khám, thế mà lại hơn. Được không mẹ? Bà mẹ cúi cúi mặt, ốp lại cái nùn rơm, đáp chậm rãi:
            - Được như rứa thì... Giọng bà tan lịm trong nỗi mừng tủi.
* * *
            Bà cụ lo lắng chuẩn bị cho Lựu đi bệnh viện huyện như cho một chuyến đi xa. Cũng phải thôi, lần đầu tiên cô gái ra quá cổng làng! Hòa lại cũng đã thỏa thuận với gia đình là nếu ý kiến bác sĩ bảo chữa được thì sẽ để Lựu ở lại luôn trên đó, bà cụ sẽ lên chăm sóc sau. Lúc cô gái sắp sửa ngồi lên xe đạp, Hòa ngạc nhiên thấy o ôm gọn trong tay một cái bọc vải nhựa cỡ chỉ bằng chiếc chăn chiên gập lại. Tất cả hành lý của o chỉ có thế thôi ư. Luôn mấy ngày thấy bà mẹ đi ra đi vào xếp xếp, gói gói, vẻ băn khoăn bận rộn, anh cứ tưởng chừng sẽ phải đa mang thêm cho Lựu một bọc đồ to nặng cồng kềnh lắm. Đường lên huyện dài hai mươi lăm cây số, anh phải đạp gần gấp rưỡi: có Lựu, anh cố tránh đường cái lớn, rẽ vòng chữ chi qua các xóm cho an toàn hơn. Tuy nhiên cũng bị một đận máy bay xẹt sát sạt đỉnh đầu. Anh chỉ kịp vứt xe, ẩy Lựu xuống một chiếc hầm tròn, anh cũng nhảy xuống chiếc hầm ngay cạnh. Để cô gái an tâm, chốc chốc anh lên tiếng, bảo ngồi yên, chắc là nó tìm đánh cầu, chiếc cầu này cách đến gần hai cây số. Đột nhiên có cái gì thúc mạnh vào một bên vai anh. Tưởng mình bị thương, anh đưa tay lên sờ, liền nắm phải một bàn tay run lẩy bẩy, lạnh buốt, bàn tay của Lựu! Người con gái đáng thương vừa bíu chặt lấy tay anh vừa giữ ý né mình về vách hầm phía sau. Hai đầu gối của Lựu tì ấn vào hông anh. Anh nghe một hơi thở dồn nóng như luồng lửa phả lên cổ, phía sau gáy. Vừa cố thu mình thêm một chút nhường chỗ, anh gắng tìm một vài câu pha trò, châm biếm cái nhâng nháo vô tích sự của thằng Mỹ, để cho Lựu đỡ sợ. Lúc anh dìu Lựu lên khỏi hầm, hai tay người con gái vẫn chưa hết run, cặp môi mấp máy, hai gò má tái nhợt.
            Suốt từ đó cho tới lúc đến bệnh viện, Lựu không nói một câu nào. Anh bác sĩ bà con của Hòa vừa mổ xong một ca thủng ruột vì bom bi. Còn thấy vẻ mệt nhọc của anh trên quầng mắt thâm và cặp môi luôn mím chặt, đến nỗi hai đường nhăn như hai vòng ngoặc ở quanh mép hằn sâu xuống như đã thành nếp. Tuy nhiên anh sẵn sàng khám ngay cho Lựu. Hòa lấy cớ đi xin tí thuốc đỏ để lánh đi: anh không muốn cô gái có cảm giác anh cũng đang nhìn vào mặt mình trong lúc bác sĩ đang làm việc. Một lát sau, anh bác sĩ xuống phòng dược tìm Hòa. Trông cặp môi vẫn mim mím của anh, Hòa đoán anh không có điều gì vui vẻ lắm để báo cho Hòa biết.
            - Mắt o bị hỏng từ lâu, màng đã thành sẹo rồi chú ạ.
            - Anh bác sĩ nói nhanh và khẽ chỉ vừa đủ nghe, theo một thói quen có lẽ đã nhiễm trong phòng mổ.
            - Có làm phẫu thuật cũng không há vọng có kết quả.
            - Không có tí há vọng nào nữa à anh?
            - Bất giác Hòa cũng khẽ giọng, như sợ Lựu nghe thấy.
            - Nếu cần thì...
            - Sao? Anh bảo sao? Giọng Hòa bỗng hồi hộp lên. Mắt anh lúc bấy giờ chắc có gì khác lạ lắm, khiến người bác sĩ chăm chắm nhìn anh với cái vành thâm quanh mắt và đường môi mim mím. Không hề chớp mắt, Hòa cũng nhìn thẳng lại bác sĩ, đương đầu với cái luồng mắt thăm dò của anh ta.
            - Tôi coi o ấy như em gái.
            - Hòa nói rành rọt, tuy vẫn khẽ giọng.
            - Anh giúp được gì cho o ấy, cũng như giúp cho chính tôi. Tôi biết lúc này các anh đang bận lắm...
            - Không phải bọn tôi muốn tránh bớt việc đâu! Lúc cần chúng tôi vẫn có thể làm liên tục mười mấy tiếng đồng hồ. Bàn với chú thế này: cứ để o ấy ở lại đây ít hôm, tôi theo dõi thêm đã nhá. Nhân tiện tôi cho người đi mượn thêm vài cái dụng cụ, tháng trước ở chỗ địa điểm cũ, nó bỏ bom, hỏng mất một số. Mới lại...
            - Người bác sĩ nói thêm, với một nụ cười buồn buồn.
            - Tôi cũng phải luyện tay chút đã, lâu nay toàn làm cái chuyện "đao to búa lớn", khéo tôi quên mất cái chuyên môn cũ rồi. Hòa ở lại suốt buổi trưa hôm ấy, thu xếp chỗ nghỉ cho Lựu, như một người anh thật sự. Anh dặn dò Lựu từng việc tỉ mỉ, lại lấy cớ giới thiệu Lựu với mấy chị y tá trong phòng để nấn ná thêm một chút. Cô gái mấy lần giục anh về.
            - Thầy cứ về đi, đường còn xa. Đừng lo chi cho tôi cả. ổn rồi đó. Có máy bay tôi cũng tự xuống hầm được, tôi thuộc lối rồi cũng không phải phiền đến các chị bệnh viện đâu.
            - Có thật không?
            - Tôi tập xuống thử rồi mà!
            - Lựu kêu lên bằng một giọng trẻ con, như sợ anh không tin mình.
            - Bệnh viện lúc ni bao nhiêu việc, lại còn phải gánh thêm tôi...
            - Không phải thế! Từ rày trở đi o Lựu không được nói thế nữa. Mi mắt cô gái chớp chớp. Gò má đỏ ửng lên, Lựu cúi mặt như người có lỗi. Hòa nhìn Lựu, lặng lẽ, anh vẫn chưa nỡ rời xa cô gái. Cán bộ nhân viên ở đây rất tận tụy, vừa đặt chân vào bệnh viện anh đã nhận thấy ngay điều ấy, Lựu chắc sẽ được săn sóc chu đáo như những bệnh nhân khác. Nhưng giờ đây anh trở thành người thân thích duy nhất của Lựu. Anh biết Lựu cố gắng làm ra dũng cảm để anh đỡ vương vấn băn khoăn.
            - Cũng có lẽ để chuộc lỗi nữa, lúc đi đường, sau trận máy bay xẹt qua, rõ ràng Lựu có vẻ hối và tự trách mình quá hốt hoảng. Nhưng anh rất hiểu cô gái. Bị rứt khỏi môi trường quen thuộc, kể ra Lựu cũng khó giữ được tự chủ.
            - Ở nhà, máy bay sạt trên đầu, Lựu cũng cứ thản nhiên như không, thong thả lần ra hầm của mình. Hơn nữa, Lựu đang giữa lúc há vọng, Lựu sợ cho cái há vọng ấy bỗng dưng bị cắt đứt tàn nhẫn, lúc này Lựu càng thiết tha với sự sống bao nhiêu!
            - Thầy đi qua chỗ huyện cũ, nhờ thầy tạt vô nhà bà mự mẹ tôi nhắn cho một tiếng, để bà biết tin. Hòa hiểu ý cô gái một lần nữa muốn giục anh về.
            - Tôi sẽ ghé ngay bây giờ. ý nghĩ Lựu có người bà con ở quanh đây khiến Hòa an tâm hơn. Lúc anh dắt xe ra, Lựu đòi đưa tiễn anh một đoạn. Quá cổng một chút, Hòa dừng lại, đến lượt anh bảo Lựu quay về. Cô gái đứng yên lặng giây lát, hơi nghiêng đầu vẻ như nghe ngóng xem có ai theo dõi mình không, rồi cất tiếng thì thầm với một vẻ bí mật dường như cố ý:
            - Thầy Hòa, thầy về được có hai ngày thôi à. Cô ở nhà sắp nằm nơi, phải không?
            - Sao o Lựu biết?
            - Tôi biết! Thầy cho tôi gửi lời thăm cô. Chúc cô đẻ đứa con gái.
            - Sao lại con gái?
            - Thầy thích con trai à?
            - Tôi thì...
            - Tôi lại thích con gái!
            - Lựu rúc rích cười trong cổ họng.
            - Thầy cho tôi gửi cái này về cho cô. Lựu rút trong túi ra một cái gói dẹt, bọc trong giấy báo, bằng cỡ chiếc khăn mùi-soa gập lại, trao cho Hòa, cũng hai tay nâng như khi o bưng cho Hòa bát nước.
            - Tôi xem được chứ? Lựu "dạ" một tiếng nhỏ, ngoảy cái đầu, như xấu hổ. Lúc đầu Hòa chưa nhận được ra ngay vật gì gói trong giấy: một mẩu vải xanh da trời, lại có đính đường diềm phơn phớt hồng. Anh mở phanh nó ra, đó là một chiếc mũ trẻ con bé xíu.
            - Tự o khâu đấy à?
            - Tôi khâu sao được! Xấu lắm à thầy! Tôi nhờ con bạn bên nhà trẻ nó làm cho đấy. Khi nào khỏi mắt, tôi sẽ học may, tôi may mũ, may áo cho con nít trong xóm, mấy thước vải Bác Hồ cho tôi cũng mang theo đây thầy ạ, may cho con nít mặc, mình được ngắm nó, vui hơn là mình mặc, phải không thầy? Hòa thấy nghẹn ắng trong cổ họng. Anh cầm lấy một bàn tay Lựu ấp tay kia của mình lên, ghé hôn nhẹ lên vầng trán phẳng và trắng trẻo của cô gái, rồi không nói không rằng, nhảy lên xe phóng vội.
* * *
            Một tuần sau, Hòa nhận được thư của người anh họ báo tin sắp sửa mổ mắt cho Lựu. Bà mẹ vội vàng đeo khăn gói lên bệnh viện để chăm sóc con gái. Lần này đến lượt ông cụ xa xẩn vào ra, quấn quýt, bận rộn, chuẩn bị cho bà cụ lên đường. Bà lên chỉ vừa kịp chôn cất cho con gái. Mấy thước vải Lựu mang theo, định may áo may mũ cho trẻ con hàng xóm, bà mẹ đem dùng để khâm liệm đứa con xấu số. Cái bọc đồ của Lựu vẫn còn nguyên vẹn cả. Lúc máy bay ập đến bắn phá, nhân viên bệnh viện trước tiên lo cứu chạy cho bệnh nhân nặng, Lựu và một cô gái khác đang bó bột cánh tay dìu nhau chạy, vừa đến cửa hầm thì bị một quả rốc-két nổ trúng, chết ngay. Về nhà kể lại, bà mẹ ngờ ngạc cả người, có lúc dường như bà không tin cái chuyện bà đang kể là chuyện đã xảy ra thật. Hòa không tìm lời an ủi bà, cũng như trước đây anh không muốn tìm lời an ủi Lựu mỗi khi cô gái chợt buồn phiền. Đêm anh nằm lặng, trân trân, óc hầu như không suy nghĩ. Một lúc nào đó tưởng chừng anh ngủ thiếp được một chút, không phải, nỗi đau xót đã khiến anh lịm đi đó thôi. Đột nhiên anh giật mình thức giấc, trống ngực đánh thình thình. Phía vườn sau trăng khuya dãi vằng vặc, sáng lạnh. Anh nhớ tới cái đêm nào, nằm bên cửa sổ vách này, nghiêng tai lắng nghe bằng tưởng tượng tiếng guồng nước của cô gái mù. Tim anh nhói lên. Một nỗi căm phẫn, không phải cháy hực, mà rất sâu, rất thấm thía, quặn trong anh. "Em như chiếc lá, lá đã lìa cành, rụng xuống mất rồi.
            - Anh thầm thì với Lựu.
            - Chiếc lá ấy chưa bao giờ chịu đành phận làm một chiếc lá thui chột hoặc tàn úa, dính lỏng lẻo trên cành. Em muốn góp phần chuyển chút nhựa làm nên hoa trái của cuộc đời. Đối với tôi, em mãi mãi là chiếc lá xanh non căng nhựa, một há vọng hoa thơm và quả ngọt, một khát vọng đẹp tươi không bao giờ tắt, không gì có thể phai mờ".
1969
(Trích từ tập truyện Chuyện làng - Bùi Hiển)

Nằm vạ


Bùi Hiển
            Chị Đỏ chợt rùng mình nhẹ, vì thấy buồn buồn ở bụng chân. Và, trong cử động nửa ý thức của giấc ngủ bị quấy phá, chị rụt chân lại. Cái buồn buồn chị cảm thấy rõ rệt nó chạy trên ống chân rồi tới gót thì biến đi.
            Chị cựa mình. Thân thể đau dần khắp cả. Cùi tay mỏi mệt rơi đánh thịch. Mắt vẫn nhắm, chị cố nghĩ, cố nhớ xem mình đang ở đâu. Và chị chợt hiểu ra là mình vẫn nằm trên nền đất, trong gian buồng hẹp và mùi ẩm mốc tanh nhạt đọng thành lớp đặc xông lên mũi.
            Từ ngoài đưa vào, tiếng xôn xao đã hơi rời rạc đượm buồn của làng mạc về chiều. Sự hoạt động của cuộc sống ngoài kia khiến chị tức bực, và chị muốn chửi lên một câu để nguyền rủa bất kỳ ai. Đã hai ngày hai đêm, chị nằm dài trên đất ẩm của căn buồng hẹp tối. Chị đã tự đầy đọa như vậy, vì một câu chuyện không đâu. Sáng hôm kia anh Đỏ mắng chị về tội đi ngủ không đóng cửa chuồng gà. Chị lầm bầm cãi lại:
            - Quên một bữa cũng chẳng sao! Chào ôi! Chăm sóc đến gà gớm. Để hắn đẻ trứng nào là nuốt lống đi trứng ấy mà!
            Anh Đỏ giận tím mặt dưới lần da đen, lẳng lặng đi ra. Nhưng chị Đỏ, với cái nư dai dẳng của đàn bà, vừa quét sân vừa kiếm câu đâm chọc. Chị bảo con em chồng:
            - Xin ơi! Rầy tao giao cho mi việc đóng cửa chuồng gà đó! Được trứng nào thì đem anh mi ăn rồi anh mi cho cái vỏ.
            Anh Đỏ chẳng nói chẳng rằng, vứt mảng lưới anh đang vá, xông tới túm lấy vợ trong hai bàn tay sắt, lôi xềnh xệch vào buồng; đoạn anh ném vợ xuống đất, như ném một đống giẻ. Chị Đỏ đổ nhoài ra, nằm thẳng cẳng như người chết rồi. Anh đạp vào mông vợ mấy cái, đoạn bỏ ra.
            Con Xin phải nấu cơm sáng thay chị. Dọn mâm rồi, nó vào buồng gọi, nhưng chị Đỏ nằm lỳ. Anh Đỏ vào lôi chị ra, chị bíu chặt lấy chân giường, miệng ngoặp vào chân chồng. Anh đau quá kêu lên: "ái! Đồ chó cắn! Được, đã muốn nằm vạ tao cho nằm".
            Bà mẹ chồng đang ở chợ bán mẻ cá mà con trai đánh được hồi đêm, nghe con Xin ra mách, vội chạy về. Với tất cả cái hùng hổ của những mẹ chồng, mụ xăm xăm vào buồng, chống nạnh, bàn tay ngoặt ra sau, và hếch mặt nạt:
            - Này con kia, muốn tốt thì ngồi dậy mà lo ăn làm. Chẳng ai hơi đâu nuôi đứa nằm ăn vạ.
Chị Đỏ nằm im. Mụ cúi định lôi dậy, lại bị ngoặp vào tay; mụ vừa chạy ra, vừa kêu như sắp bị chết chém: "Ua làng nước ôi! A làng nước ôi! Hắn cắn đứt tay tôi rồi!".
            Thế là câu chuyện thành to và không thể vãn hồi. Chiều đó vài bà con trong họ đến hỏi thăm; có đôi đứa bé tò mò ghé mắt nhìn vào buồng. Anh Đỏ gắt đuổi ra, đem buộc ở cửa một mảng buồm rách làm rèm che.
            Trong bóng tối, chị Đỏ thấy dễ chịu hơn, và thầm cám ơn chồng, chị đã có ý muốn thôi nằm vạ.
            Nhưng đến đêm, anh Đỏ vào buồng ngủ, anh chỉ nói một câu cụt lủn:
            - Muốn tốt muốn lành thì dậy!
            Tự mình ngồi dậy thì sượng mặt, chị Đỏ nằm chờ. Nhưng anh gắt:
            - Muốn đạp thêm cho ít cái nữa lắm.
            Rồi trèo lên giường ngủ. Chị Đỏ nằm một đêm dưới đất lạnh buốt xương không sao nhắm mắt được. Sáng hôm sau, chồng ra rồi, chị lồm cồm tới giường, lấy hai manh chiếu, một rải ra đất, một đắp lên mình, đánh một giấc dài khoan khoái. Đó là lần đầu chị được ngủ ngày một cách say sưa, không bị quấy rối; lần đầu chị nếm cái thú nhàn hạ của các bà tỉnh thành.
            Nhưng đến đêm, anh Đỏ tàn nhẫn đẩy chị lăn ra, giật lấy chiếu và chị lại nằm một đêm trên đất cứng lạnh.
* * *
            Tiếng xôn xao ngoài kia nhỏ dần, nhỏ dần... Thực ra, ngày chưa tắt; nhưng thính quan chị đã yếu đi trong sự mệt nhọc toàn thân, một sự mệt nhọc rời rã, khiến cho xương mềm, thịt nhão và ngón tay co quắp, sự mệt nhọc gây bởi cơn đói. Chị nhịn ăn đã hai ngày! Đó không phải cái đói giày vò, quằn quại, náo động của những miệng ăn hùm hổ. Vốn tính ăn ít, làm nhiều, chị chỉ thấy một cái đói nhẫn nại nó thỉnh thoảng cào xót trong dạ dày. Hình như mồ hôi toát trên trán lạnh, nhưng chị không còn đủ sức đưa tay lên sờ. Chị cựa mình quay nghiêng vì nãy giờ nằm ngửa, da bụng căng ép lên dạ dày trống rỗng, như một hòn đá nặng.
            Chị nằm co như con chuột chết, bụng thóp lại. Mắt mở trân trân dán vào một vuông sáng mà có lẽ chị cũng không nhận ra là lỗ thông để đùn rác rưởi quét ở buồng ra.
            Chợt mảnh buồm che cửa lay động. Chị không nghe động nhưng thấy một vệt ánh sáng lấp loáng và mảnh vải bị nâng để lộ da trời. Rồi một cái đầu ló trong ánh sáng tam giác ấy, cái đầu tóc bơ phờ khăn quấn cẩu thả của mẹ chồng chị. Chị Đỏ liếc nhìn lên, nhưng không thấy rõ mặt mụ, sấp bóng tối. Tuy vậy, chị tưởng tượng mụ ta đương dạo đôi mắt lấc láo lo ngại trong vòm sâu hoắm; và chị nghĩ thầm: "Mình mà chết thì cũng rầy với mình! Quan khám, lệ hạch, rồi họ cũng đến lo mà chết luôn thôi! ừ, mình cứ nằm đây, không vào bồng dậy mà chớ!". Cái đầu biến đi và khung sáng sụp tối.
            Cái cảm giác buồn buồn lại tới ám chị, lần này ở đầu ngón chân cái; chị cũng không buồn rụt chân. Nó chạy dần lên, dừng ở mắt cá, tiến tới đầu gối, chui vào một chút xíu dưới váy chị, rồi chạy trở ra. Đến bụng chân, nó biến đi. Bỗng một bóng đen nhỏ vụt qua lỗ hổng; chị nhận ra một con chuột nhắt.
            Một lát sau, con chuột lại hiện ra trong khung trắng. Nó quay đầu bên này, bên kia, chạy từng chập ngắn trên chân nhỏ thoăn thoắt, dừng lại, chạy ít bước vội vàng, dừng lượt nữa, rồi chạy trở lại như để dử ai. Nó đứng yên, quay nhìn vào buồng, mắt tròn ngời ánh đỏ hoe như hạt ngọc.         Con vật xinh nhỏ có một dáng điệu nửa nghi ngờ, nửa tinh nghịch. Sau cùng, nó chạy vào buồng, xấp tới bàn tay chị Đỏ lê trên đất. Nó vểnh tai nhìn rất lâu những ngón tay rung rung, đoạn khôn ngoan chạy về phía vách, lẩn trong bóng tối.
            Tiếng bát đĩa lách cách dưới bếp làm nao lên trong lòng chị một niềm giận dữ. Hừ! Họ vẫn ăn đủ bữa và no bụng. Đã không muốn lo, để rồi chị cho mẻ lo. Khi quan về khám án mạng thì những kẻ kia hãy liệu mà bán thuyền bán lưới đi thôi!
            Con chuột nhắt núp trong tối lâu lắm, rồi lại chạy ra. Lòng vẫn sôi tức bực, chị Đỏ choài tay định bắt. Nó kêu lên một tiếng nhọn hoắt, vút ra lỗ sáng rồi thoắt biến, để lại trên đất một vật trắng nhỏ bằng hạt đỗ. Chị Đỏ cầm lấy, nhận ra một mẩu khoai xát khô, bèn bỏ tọt vào miệng. Nước miếng nhoèn nhoẹt đầy trên lưỡi, tẩm vị ngọt của khoai.
            Một ý nghĩ lóe ra trong trí yếu chị Đỏ. Thu góp sức tàn, chị lê xoay mình về phía vách, giơ tay quờ trong bóng tối. Một cái chóe1 bị vật ra đất, với một tiếng nặng nề khô khan. Tay chị đưa lần miệng chóe, nắm lấy cái nút lớn làm bằng một nùi rơm bọc lá chuối, cố sức rút. Nút bật tung, và những lát khoai rào rạt tuôn ra trắng đất. Chị Đỏ vội vàng bốc lấy một nắm trong tay run run, vụng về đưa vào miệng. Khoai rơi lả tả xuống. Chị Đỏ nằm ngửa ra, nhai. Chị nhai ngồm ngoàm, hộc tốc, trợn mắt nuốt. Chị cảm thấy rõ sự cọ xát trên da thực quản của những mẩu khoai chưa nghiền kỹ. Khi bụng đã thôi bị sức căng ép, chị quay nằm ngửa, nhai chậm hơn. Mắt nhìn một lỗ hổng trắng trên mái tranh, tay đưa dần từng miếng khoai lên miệng, chị nhai một cách từ tốn quý phái, để nước miếng tiết ra nhiều ngào miếng ăn thành một làn bột mềm, ngọt và thơm mát.
            Nhưng một lát sau, một sự khó chịu bỗng chiếm lấy chị. Chị Đỏ thấy tức ách trong bụng quá đầy, tưởng có một hòn đá nặng trong đó, khiến chị không trăn trở mình được. Trên đầu máu tụ, và chị Đỏ nằm thiếp đi trong cơn bội thực, bàn tay mở vẫn đặt trên những lát khoai còn lại ở mặt đất.
* * *
            Chị Đỏ ren rén ngồi dậy, lê đến cạnh vách, ghé mắt vào một lỗ hổng nhỏ nhìn ra sân. Chị thở phào một tiếng. Ông Lý sắp đến thực. Mẹ chồng chị đương têm trầu, anh Đỏ xăng xít nhấc chiếc phản ra sân để "làng" ngồi. Con Xin ngồi xổm trong một góc, lo đánh bộ chén cọc cạch thẹn thùng nằm trên cái đĩa Tàu cổ rất đẹp mà anh Đỏ đã lấy được trên một chiếc tàu ô trôi lênh đênh vô chủ ngoài bể cả sau một trận cuồng phong nào.
            Chị trở lại chỗ cũ, nằm duỗi cẳng, khoan khoái đợi. Cái trò đùa thực đã kéo dài quá thể. Chị nằm vạ bảy ngày trời rồi! Hôm nhờ con chuột nhắt, chị khám phá ra cái kho lương thực bất ngờ ấy, ý nghĩ thứ nhất đến với chị là một ý nghĩ phục thù: chị sẽ nằm dài ra đó, ít ra cho đến lúc còn trơ lại cái chóe không. Cho đáng kiếp!
            Nhưng chị chẳng phải dùng nhiều bữa khoai sống mới nhận thấy rằng thức ăn kia cào xót ruột và ứ hơi trong bụng đầy trình trịch. Một đôi khi nước ợ lên đến cổ, vị chua gắt, suýt trào ra ngoài miệng lúc chị nằm nghiêng; chị nhắm mắt nuốt đánh ực, và vị chua khiến chị rùng mình.
            Cơ sự đã thành nghiêm trọng, chỉ còn chờ "làng" đến mới phân xử được. Mỗi khi thấy cái đầu mẹ chồng ghé mắt nhìn vào, chị thở rốc lên những hồi ghê rợn như người sắp chết, để mụ lo lắng thêm. Vậy mà những ngày dài chờ đợi vẫn trôi đi, ông Lý vẫn biệt tăm dạng. Đã có lúc chị nghĩ: "Hay là họ cứ để mình nằm thế này cho đến chết đói?" Và giận dữ sôi lên trong lòng, chị lại nghĩ đến chuyện cắn lưỡi.
            Thực ra, mẹ chồng chị không vô lo như chị tưởng. Trong bốn tối luôn mụ ra chầu chực nhà ông Lý. Nhưng ông Lý và ông Phó mắc việc quan trên phủ. Tối hôm thứ năm, mụ cuống cuồng lên, đến tận bến đò đợi. Mụ vừa chạy theo ông Lý về, vừa kể lể sự tình. Ông Lý hẹn:
            - Mai đến.
            Mụ mừng cuống, đem đĩa trầu khô vẫn bưng cò kè vào trút lên cơi bà Lý, rồi chạy về báo tin cho con.
* * *
            Ông Lý bước vào, xúng xính trong áo lương rộng và lẹp kẹp đôi giầy da. Khuôn mặt phì nộn tươi nở như một cái hoa, mà nhụy là cái mũi đỏ chóe, to lạ lùng và đâm lỗ chỗ như da trái bưởi.
            Ông đặt đít ngồi; theo thói quen, ông đập hai bàn chân vào nhau phủi đất, rồi mới đưa lên xếp bằng trên phản. Đoạn hách dịch gọi:
            - Con mẹ Đỏ đâu rồi?
            Một người em họ anh Đỏ đã đứng chực sẵn, vào buồng nhắc chị ra; chân chị lê xềnh xệch trên đất. Chị giả cách cố gượng mới ngồi lên được ngưỡng cửa. Tóc chị rối bù, khăn xổ xuống che một mắt; chị đã tự soạn một bộ mặt chết đói bảy ngày.
            Hàng xóm đến xem, đứng vây thành vòng bán nguyệt. Những đứa con nít nghiêng đầu hấp háy nhìn bằng đôi mắt nhèm, hai tay chắp lại trên cu tồng ngồng. Vài cô gái kháo nhau:
            - Ả Đỏ tài nhịn gớm, bay ạ. Bảy tám ngày, mà chẳng gầy đi tí nào.
            Chị Đỏ sẽ dệch mép cười lặng lẽ.
            Ông Lý nhấp trà rồi cất tiếng:
            - Sao đó, đã ưng dậy chưa? Chà, vợ chồng người ta ở với nhau năm năm, mười năm, cãi lộn nhau cho hắn đáng; đằng này, đôi vợ chồng son, anh như mâm ngọc, em còn như đôi đũa vàng, ha ha ha... chưa chi đã giận hờn, rồi lăn ình ra nằm vạ.
            Sự khoái hoạt ầm ĩ của ông Lý khiến mọi người cười theo; và, đâm nhờn, một cô gái trong bọn đứng xem liền đùa một câu:
            - Ông Lý hát phường giỏi lắm đó.
            Ông Lý liếc nhìn cô một thoáng mau, rồi lập nghiêm ông hỏi:
            - Sao? Bây giờ muốn hòa thuận với nhau lại không? Hay là muốn ly dị, thì ta cho đồng tiền chiếc đũa mà về cùng bố mẹ?
            Mẹ anh Đỏ đứng chắp tay thưa:
            - Thưa ông, chứ con ấy tệ lắm. Mắng hắn một tiếng hắn cãi lại hai tiếng, rồi hắn lăng loàn, hắn gieo mình nằm vạ, hắn cắn đứt tay tôi. Xin làng cứ phép xử thì đội ơn lắm.
            - Thế mụ muốn hai bên ly dị à?
            - Bẩm không! Bẩm không! Là tôi trình để làng biết cho như thế thôi.
            Mụ vội nói thế. Mụ dại gì mà cho dâu về, đứa dâu mụ vẫn tự hào mát tay mới chọn được. Chị Đỏ tuy xấu tính thực, nhưng hay làm, đảm đang tất cả việc trong nhà. Vả cưới chị có phải tốn ít đâu; tiền anh Đỏ dành dụm trong hai năm đi chài, từ khi còn là một chú trai nấu cơm xách nước cho đến khi lên anh bạn lành nghề đều dốc vào đó hết.
            Ông Lý gắt:
            - Muốn đường nào thì nói rõ ra một đường!
            Anh Đỏ vẫn đứng chắp tay trong góc nhà, nói ra:
            - Thưa ông, ông xử cho tôi phận nào, tôi được nhờ phận nấy.
            - Ăn nói hàm hồ thế thì ai biết đường nào mà xử! Mẹ Đỏ! Muốn ở hay muốn về?
            - Dạ trăm sự nhờ ông cả, ông cho sao thì được vậy... Trăm sự cũng là nhờ ông.
            Chị Đỏ đáp vậy, giọng kéo dài như mỏi mệt. Ông Lý đét vào đùi, bộ thất vọng:
            - Thế thì cha ai mà xử được. Anh nói "nhờ ông", ả nói "nhờ ông", sao mà hai anh ả khéo bảo nhau ghê. Đã đồng ý với nhau thế thì, thôi! Cho đoàn tụ!
            Mọi người vẫn im lặng. Thấy lời tuyên án không hiệu quả và câu khôi hài kín đáo không ai thưởng thức, ông Lý ngồi lặng thinh uống nước.
            Anh Đỏ bước ra rót nước. Bấy giờ chị Đỏ mới chợt nhận thấy chồng mình mặc áo dài. Cái áo lương tưởng như sắp bật tung trên thân hình vạm vỡ của anh dân chài. ống áo chịt vào cổ tay đen, và tà ngắn đập cũn cỡn trên đầu gối. Chị Đỏ vờ cúi mặt, liếc nhìn qua mớ tóc rối trên trán, và mỉm cười ngắm những cử chỉ ngây ngô của chồng. Chị nhớ lại hôm cưới, anh Đỏ ngượng nghịu trong cái áo lương độ ấy còn mới nguyên, và cái quần cứng đét hồ, thì thụp lạy trước bàn thờ. Chị bất giác cười lên tiếng. Anh Đỏ quay nhìn, càng ngượng nghịu thêm, thủ hai bàn tay dưới áo, rồi chắp lại, rồi gãi đầu, rồi mân mê khuy áo. Sau cùng anh mỉm cười cho đỡ thẹn. Ông Lý kêu lên:
            - Ờ, anh ả cười với nhau rồi đó kìa! Cần gì ai phân xử nữa!
* * *
            Con Hoét mách:
            - Mẹ ơi, ả Đỏ vào buồng.
            Mụ Bình chạy vào, thấy chị Đỏ đứng chải đầu. Mụ hỏi:
            - Mi lấy gì đó?
            - Lấy gì đâu?
            Khi mụ Bình ra rồi, con Hoét, còn nhỏ mà đã ranh vặt, đứng nhìn. Từ ngày chị nó về nhà chồng, nó vẫn quen coi chị như người xa lạ, theo gương mẹ nó. Con gái là con nhà người... Mỗi khi thấy chị về chơi nhà lấy vật gì, nó kêu lên như bị mất cướp. Chị Đỏ chải đầu xong, thản nhiên đi ra. Con Hoét yên tâm, không ngờ chị nó đã mang một bọc khoai khô trong tà áo nâu dài buộc túm, bọc khoai đã ăn trộm được trong chum mẹ chị.
            Về đến nhà chồng, chị len lén nhìn, rồi thẳng tuột vào buồng. Chị mở nút tà áo ra, tuồn khoai vào chóe, vừa vặn đầy như trước. Một hôm trời hửng nắng hanh vàng, mẹ chồng chị đem khoai ra sân phơi. Chị Đỏ ngồi đan lưới trong nhà, hồi hộp nhìn ra. Mụ đưa bàn tay nổi gân rải xòa đống khoai. Chợt mụ lặng yên như đang suy tính gì lung lắm. Mụ cầm một lát khoai, nhìn mãi trong một ngạc nhiên câm lặng. Mụ di di móng dài ngón tay cái lên trên, cố cạo lớp vỏ xám. Sau cùng, mụ ngoảnh vào, nói với con dâu điều phát kiến mới mẻ của mụ:
            - Mẹ Đỏ này, cái chóe khoai mình nút không chặt để gió vào, thành thử cả lớp khoai trên hắn xạm đen mặt lại.
1940