Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

ĐẶC SẮC NGÔN NGỮ TRONG “PARI, 11 THÁNG 8 ” CỦA THUẬN



1. Thuận và “Pari 11 tháng 8”
         -  Đôi nét về nhà văn Thuận : Nhà văn Thuận tên thật là Đoàn Ánh Thuận, Sinh năm 1967. Chị đã tốt nghiệp khoa Anh ngữ ĐH Sư phạm Ngoại ngữ Pyatigorsk (Liên bang Nga) năm 1991, làm sao học văn học Anh cổ điển tại Đại học Pari 7 (1991-1992) và cao học văn học Nga đương đại tại ĐH Sorbonne (1992-1993). Hiện chị đang định cư tại Pháp.
       - Đôi nét về “Pari 11 tháng 8” :
  + Là tiểu thuyết thứ ba của Thuận, sau Made in Vietnam và Chinatown, được gợi cảm hứng từ trận nóng năm 2003 mà điểm đỉnh là ngày 11 tháng 8, đã giết chết gần mười lăm ngàn người Pháp. Paris 11 tháng 8 vì vậy là niềm hổ thẹn sâu kín của một xã hội hậu-tư-bản viên mãn.
  + Tác phẩm gồm 22 chương, Nhân vật chính của tác phẩm là 2 người đàn bà đi từ Hà Nội và gặp nhau tại Pari. Họ là 2 con người hoàn toàn khác biệt. Một Mai Lan xinh đẹp, quyến rũ từng làm diễn viên nổi tiếng khi còn ở trong nước, trước đó đó đã từng chung sống và có con với một ngoại kiều, vì lớn tuổi nên đã gần hết thời với nghề gái bao kiêm phiên dịch giữa thành phố hoa lệ. Một Liên từng làm coán bộ công đoàn, xấu xí “mặt nổi mụn như bánh đa kê”, đã vậy “mắt gườm gườm” như một vũ khí tự vệ. Liên sang  Pari kiếm sống bằng nghề tắm cho người già ở một công ty chăm sóc sức khoẻ người già rồi thất nghiệp, làm hợp đồng giúp việc cho Mai Lan. Hai con người hai số phận nhưng kết thúc cũng bi đát như nhau. Liên chết trong vụ tự tử cùng người nhân tình già, Mai Lan lâm vào cảnh túng quẫn vì bị cắt viện trợ nuôi con….
    Pari 11 tháng 8  thành công nhờ nhiều yếu tố, một trong số đó chính là thi pháp tiểu thuyết rất đặc sắc của tác phẩm. Giống như lời giới thiệu của Đoàn Thị Cầm Thi  ở đầu tác phẩm là “ Với lối hành văn độc đáo (thậm chí là hơi kỳ lạ so với những cuốn tiểu thuyết khác), "Paris 11 tháng 8" cho người đọc cảm giác như đang đọc trộm nhật ký của một người xa lạ.” Do giới hạn về thời gian nên chúng tôi chọn một khía cạnh của nghệ thuật của tác phẩm này là ngôn ngữ để tìm hiểu.
2. Ngôn ngữ trong “Pari 11 tháng 8”
-  Ngôn ngữ nhân vật  : Ngôn ngữ nhân vật là một trong những yếu tố quan trọng của ngôn ngữ trần thuật của tác phẩm văn học. Ngôn ngữ nhân vật “là lời nói của nhân vật trong các tác phẩm thuộc các loại hình tự sự và kịch”. Ngôn ngữ nhân vật là một phương tiện quan trọng thể hiện cuộc sống và cá tính nhân vật, được coi là một đối tượng miêu tả, cá tính hóa trở thành một yêu cầu thẩm mĩ.
Trong “Paris 11 tháng 8”, nhân vật Liên chỉ biết im lặng, gật đầu, lắc đầu. “ Cô bán hàng ngẩng đầu bảo: hồng nhung mùa này đẹp, đẹp và tươi. Liên không nói gì. Cô bán hàng bảo tiếp: làm một bó năm bông nhé. Liên vẫn im lặng. Cô bán hàng thở dài, lại cúi xuống tỉa lá, chắc đã quen lắm với cảnh này. Liên ra ngoài, khép cửa lại, vừa cố không gây tiếng động vừa tự nguyền rủa mình”
 Có lần muốn khen Mai Lan nội trợ khéo nhưng Liên không sao tìm ra một câu chân thực, tiếng Pháp và cả tiếng Việt đều không diễn tả được. Các nhân vật còn lại mỗi người đều có một kiểu ngôn ngữ khác nhau. Về hình thức, ngôn ngữ đối thoại rất ngắn gọn. Các nhân vật nói năng, giao tiếp với nhau như một công thức, được cài đặt sẵn, nhịp điệu cũng gấp gáp, nội dung các lời thoại cũng bình đẳng quá sức tưởng tượng. Đoạn đối thoại giữa mẹ con Mai Lan tiêu biểu cho hình thức ngôn ngữ đối thoại đó:
Người đầu tên lên tiếng là con My. Nó bảo: ngay từ đầu con đã bảo thằng này không ổn. Mai Lan không nói gì…Mai Lan ngước mắt nhìn nhưng không động đến, một lúc sau mới bảo: thế nào là ổn?. Con My bảo: đi chơi xong, tiễn phụ nữ về nhà là ổn. Mai Lan bảo: nhưng nó độc thân. Con My bảo: không nên nguyên tắc thế mẹ ạ. Mai Lan bảo: sống rồi sẽ biết, mày mới tí tuổi đầu. Con My bảo: mẹ cũng phải xem lại cái thân thể của mẹ. Mai Lan bỏ tách cà phê lên bàn hỏi: mày nói thế là làm sao.
Các câu đối thoại cực ngắn, một số câu đối thoại không cần sử dụng dấu câu, đối thoại diễn ra và kết thúc nhanh chóng như cuốn người đọc tham gia vào câu chuyện. Đây là đặc trưng của lối viết văn hiện đại thường xuất hiện trong các tác phẩm gần đây. Hầu hết các câu đối thoại trong truyện đều ngắn gọn, các câu trần thuật cũng thế. Có lẽ trong thời buổi công nghiệp, con người không còn đủ thời gian để giao tiếp, để tán gẫu nên ngôn ngữ của nhân vật cũng có phần kiệm lời.
Nhà văn Thuận có những sáng tạo trong việc cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật. Ngoài cách đặt câu ngắn gọn, Thuận còn để các nhân vật của mình lặp lại những câu nói của mình như một châm ngôn. Đúng như lời Thuận đã nhận xét “có vẻ như sau một quá trình sử dụng ngôn ngữ, ai cũng tìm được cho mình một câu ưa thích”. Như “ Lan bảo tiếp: sống rồi sẽ biết. Mai Lan có vẻ thích câu này, nói chuyện hay chêm vào”. Cái câu “Sống rồi sẽ biết” được Mai Lan lặp lại như một phương châm sống của bản thân, thấy nhưng chưa va chạm thực tế, chưa tận mắt chứng kiến thì như chưa biết. Vẻ hào nhoáng bên ngoài của đàn ông không làm cho Mai Lan tin tưởng bởi hư nhiều thực ít. Chỉ có nếm phải sự đắng cay của sự gian dối, lừa gạt, Mai Lan mới thấm thía ý nghĩa triết lí của câu nói cửa miệng đó, phải sống và chung đụng với nó thì mới hiểu nó như thế nào?.
Mỗi lần đối thoại, Pát lại thích nhắc câu “Miễn bàn” như một phong cách sống của mình. Tất cả cứ thế mà sống không cần bình luận bàn cãi, không cần giải thích gì thêm. Do đó, Pát cứ tự đưa đẩy cuộc đời mình khắp bốn phương và đoạn kết vẫn là dấu chấm hỏi. Anh trai Liên vẫn một điệp khúc “Cái đó sẽ tính”. Với anh mọi việc cần phải cân nhắc, tính toán, phải trục lợi cho bản thân. “Bà già láu cá” thì lúc nào cũng thốt lên “Ôi thật không sao tin nổi”. Với một sự thất vọng tràn trề. Bà già không tin vì sao trong đời lại có những con người vô ơn như vậy? Tuổi già, bệnh tật nhưng đám con cháu bỏ mặc bà một mình, vài ba tháng mới gọi điện hỏi thăm sức khỏe một lần chỉ để moi một tấm séc của bà. Không một đứa nào biếu bà được một hộp sô- cô- la, một bức bưu ảnh, một bó hoa hay xoa ngực hộ bà. Bà già láu cá đóng kịch cũng rất hay khiến mọi người rất tin bà. “Câu bà ưa thích nhất cũng rất kịch: ôi thật không sao tin nổi”.
Bên cạnh đó, Thuận nhắc đến các kiểu người lặp lại những câu nói theo thói quen của bệnh nghề nghiệp. Các nhà chính trị là những người hay hứa suông nên lúc nào cũng phát ngôn “Tôi xin hứa sẽ làm hết sức mình”; Các vị thẩm phán thường khẳng định tính chính xác của cáo trạng bằng câu nói “Không còn nghi ngờ gì nữa”; Các vị gác cổng thì cam đoan mình hoàn thành trách nhiệm bảo vệ với câu “Chính mắt tôi chứng kiến”. Thầy giáo vi tính dạy dỗ lôi thôi, mất tư cách nhưng vẩn làm ra vẻ trịnh trọng “Mọi việc đều tốt chứ, thôi bây giờ chúng ta làm việc nghiêm túc nhé!”.
Mỗi nhân vật, mỗi con người lắp lại một câu nội dung khác nhau nhằm cá thể hóa ngôn ngữ của mình tạo nên một nét riêng khác biệt. Mặc dù những câu nói ấy không phải là những triết lí suy nghiệm nhưng đó là những phương châm sống, những lời lẽ ứng xử của các nhân vật hình thành nên một thế giới nhân vật hết sức phong phú, sinh động, mang tính thẩm mĩ cao.
Ngôn ngữ nhân vật bao giờ cũng kết hợp giữa tính cá thể và tính khái quát. Mỗi nhân vật có một ngôn ngữ mang đặc điểm riêng nhưng mặt khác lại phản ánh được đặc điểm ngôn ngữ của một tầng lớp nhất định. Ngôn ngữ của Mai Lan là ngôn ngữ của một người từng lăn lộn kiếm sống bằng chút nhan sắc nên tỏ ra mạnh bạo, dạn dĩ. Lời nói mang tính quả quyết nhưng đằng sau đó là nỗi xót xa “Tao sẽ phải tự lăn lộn kiếm ăn. Kiếm được đồng tiền khó lắm. Bao nhiêu là mánh mung, đấu đá, bao nhiêu mối quan hệ lằng nhằng, bao nhiêu thủ tục hành chính phức tạp.”. Mai Lan ý thức được muốn kiếm được đồng tiền phải trả giá khá đắt nhưng không còn cách nào khác. Ngôn ngữ của Pát lại mang cá tính đặc biệt lúc nào cũng lấp đầy dục tính với những cảnh làm tình táo bạo. Đó là ngôn ngữ của kiểu người thích hưởng thụ, đam mê dục vọng của thanh niên phương Tây khi mất phương hướng “Pát bảo làm tình nhân thiệt thòi nhiều lẽ nhưng được cái kích thích. Kích thích là điều quan trọng nhất. Yêu nhau mà không kích thích thì trệu trạo hơn bánh mì khô”. Lời ăn tiếng nói của Pát có vẻ sành sỏi của người từng trải qua những cuộc tình thác loạn. Ngôn ngữ của giám đốc Vinh lúc nào cũng tỏ ra lịch thiệp nhưng giả dối của kiểu người sống ưa hình thức, mắc bệnh sĩ. Các nhân vật trong truyện đều có một ngôn ngữ riêng không pha tạp vào đâu. Mỗi lời nói của nhân vật đều mang những nét cá tính riêng của một kiểu người tiêu biểu trong xã hội.
Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn gọn, gắn liền với tính cách nhân vật. Đối thoại trong truyện ít mang tính xung đột mâu thuẫn. Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật nhiều khi là những suy tư, trăn trở của nhân vật. Một số câu đối thoại của Mai Lan còn mang tính trừu tượng, nước đôi khó hiểu. “Nhưng sợ nhất là những cái không ai định nghĩa nổi, không có trên giấy tờ, không biết gọi tên là gì. Xã hội Việt Nam mỗi ngày tự sản xuất ra vài cái như vậy”. Ngôn ngữ độc thoại xuất hiện ít hơn đối thoại. Có khi chỉ vài ba câu ngắn nhưng thể hiện nội tâm nhân vật trong những giây phút bị dư chấn trong tâm hồn. Ngôn ngữ nhân vật của “Paris 11 tháng 8” thể hiện tính cách nhân vật rất sắc sảo
      - Ngôn ngữ người kể chuyện
Ngôn ngữ người kể chuyện trong “Paris 11 tháng 8”, có khi hài hước, châm biếm. Ngôn ngữ người kể chuyện như đưa người đọc trở về với cuộc đời thực của nhân vật. Cùng sống, cùng chịu đựng những đau khổ trong bi kịch tinh thần của họ. Phần lớn ngôn ngữ của người kể chuyện là ngôn ngữ kể. Kể câu chuyện về những người phụ nữ đủ nguồn gốc lưu lạc trên đất Pháp, kể về sự tha hóa của con người khi mà đạo đức đã bắt đầu xuống cấp, về nỗi hổ thẹn của nước Pháp trong sự kiện 11 tháng 8 làm 15.000 người bỏ mạng và khiến hàng loạt người bị thất nghiệp… Ngôn ngữ người kể chuyện lắm lúc pha màu hài hước làm cho không khí truyện bớt căng thẳng và giảm nhiệt. Những đoạn kể chuyện Pát làm tình hồi còn làm thợ may ở LaHabana “Có hôm hung quá, một thùng kim máy khâu đổ xuống. Cả bọn tái mặt. Không dám gọi ai” hay cảnh ô-sin vào dọn dẹp phòng anh trai Liên vớ phải băng con heo liền “Đóng chặt cửa, bật đèn ngủ nằm dang chân trên đệm xem con trai con gái vật nhau”. Ô- sin thích lắm nên từ đó hay chịu khó vào dọn dẹp phòng anh trai Liên. Bằng ngôn ngữ hài hước kết hợp châm biếm, người kể chuyện đã phơi trần hình ảnh anh trai Liên và giám đốc Vinh như hiện thân của những kẻ bất tài vô dụng, hoang phí và trụy lạc.
Ngôn ngữ người kể chuyện trong “Paris 11 tháng 8” là ngôn ngữ được viết theo lối trực tiếp, phần lớn là ngôn ngữ kể. Ngôn ngữ người kể chuyện được biểu đạt một cách rõ ràng, trong sáng với thái độ khách quan, giàu chất hiện thực, tình cảm yêu ghét phân minh đối với các nhân vật. Đó là thứ ngôn ngữ hàm súc, tuy không đi sâu phân tích, lí giải nhưng người đọc vẫn hiểu ý đồ nghệ thuật của người kể chuyện. Mà cách dùng ấy được dặt tên là ngôn ngữ “ cực thực” để thể hiện bi kịch của các nhân vật. Chính Thuận đã từng trả lời phỏng vấn : “Mỗi nhà văn có một cách riêng để đưa hiện thực vào văn học. Nguyên tắc của tôi là tránh càng xa càng tốt sự hoài cổ và lãng mạn.”
 Nỗi đau là gì? Chính xác hơn: Viết nỗi đau như thế nào? Ngôn từ nào có thể diễn tả nỗi đau, một khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, vừa giản dị vừa phức tạp, vừa hữu danh vừa vô hình, vừa cá nhân vừa cộng đồng? là câu hỏi không ngừng ám ảnh mọi nền văn học.

 Trước nỗi đau vô tận nhưng sâu kín đó của nước Pháp, Thuận, một nhà văn ngoại kiều, đã chọn chỗ đứng nào? Vừa ở trong vừa ở ngoài. Vừa xa vừa gần. Khẽ khàng cô muốn chạm vào nó nhưng vội rụt tay về. Không rút mùi xoa không nức nở, mà bằng một năng lực cảm nhận đặc biệt, Thuận kể về thảm kịch lịch sử và thân phận cá nhân. Hai mươi hai chương của Paris 11 tháng 8 đều bắt đầu bằng một bài báo Pháp nói về trận nóng 2003, có vẻ không ăn nhập gì với diễn biến câu chuyện sau đó. Nhưng lồng thông tấn vào văn học, hai thể loại văn bản đối lập nhau, Thuận khiến độc giả bất ngờ như thể xem một bộ phim màu có xen những đoạn tư liệu đen trắng. Động tác lục lưu trữ của Thuận, đọc săm soi nỗi đau giấu kín dưới tầng tầng lớp lớp của thời gian và thông tin, nhưng không một lời bình luận, thể hiện một thái độ vừa thẹn thùng vừa khiêu khích. Còn đây là cách cô diễn đạt nỗi niềm của nhân vật chính ở tuổi trăng tròn:

«Liên học đại học Mỏ-Ðịa chất. Sinh viên nữ đếm trên đầu ngón tay, còn lại toàn nam. Giáo viên cũng toàn nam. Ngày mồng tám tháng ba, sân trường vắng ngắt. Cả thầy lẫn trò lo cắt tóc và mang hoa đến tấn trước kí túc xá Sư phạm. Liên và mấy đứa con gái năm đầu ngỡ ngàng, Quốc tế phụ nữ tiếp theo tự động ngồi nhà, hôm sau gặp nhau ở giảng đường không một câu bình luận, như không có chuyện gì xảy ra. Các thầy giáo không hiểu vì ngượng hay thương hại mà suốt buổi chẳng gọi nữ sinh nào lên bảng. Bọn con trai thì im lặng tuyệt đối. Giờ giải lao, một thằng chạy ra hàng nước trước cửa trường. Lúc Liên quay lại thấy trên bàn có một phong kẹo lạc. Lần sau thấy bánh đậu xanh. Lần sau nữa thấy mè xửng. Năm tốt nghiệp thấy hẳn một gói sô-cô-la Thái Lan, giấy bọc màu vàng, in hình con voi ngậm một bông hoa hồng, giá bằng bát phở tái Tràng Tiền. Liên không nói gì. Hết giờ học cho vào túi, cũng chẳng lên tiếng cám ơn. Bọn con trai không phản ứng, có vẻ như không ngạc nhiên. Trên xe buýt về nhà, Liên gặp một đứa con gái học khóa trên. Nó bảo nó cũng được một phong kẹo lạc. Sau đó cả hai cùng im lặng. Bốn mươi lăm phút trên xe buýt dài vô tận. Hai đứa tránh nhìn vào mắt nhau.»

Dùng những từ ngữ giản dị nhất để nói những khái niệm phức tạp nhất, không diễn văn không tu từ không ẩn dụ, đó là nỗi đau của Thuận. Đằng sau những dòng chữ là im lặng, âm vang, khoảng trống. Là những điều không thể nói thành lời. Sức mạnh của Paris 11 tháng 8 chính ở trong trận chiến không phân thắng bại giữa nói và không nói. Nhưng có lẽ đó là một điều xa xỉ đối với những ai đang mải viết báo Tết kiếm tiền chơi Xuân như Phạm Xuân Nguyên.
  Tác giả đã thể hiện một cá tính sáng tạo. Khi trần thuật, Thuận chọn người kể chuyện ở ngôi thứ ba để có giọng kể khách quan hơn. Vì vậy, “Paris 11 tháng 8” đậm chất hiện thực, tạo độ tin cậy cao, phản ánh được bản chất vốn có của sự vật, sự việc. Giọng điệu của “Paris 11 tháng 8” là giọng điệu lạnh lùng của lí trí, không khoan nhượng trước những tiêu cực của cuộc sống. Chính vì vậy, giọng điệu chủ yếu ở đây là châm biếm, hài hước lẫn chua cay. Nhờ giọng điệu ấy mà tác phẩm có ý nghĩa phê phán khá sâu sắc. Trong bài phỏng vấn của tác giả Lan Ngọc, Thuận đã thừa nhận: “Ngôn ngữ Việt thừa hiện đại và tinh tế để sáng tạo”. Do đó, Thuận đã sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo, biến hóa và linh hoạt. Ngôn ngữ đối thoại của nhân vật ngắn gọn, mang phong cách Việt và biểu hiện được tính cách của các nhân vật một cách riêng biệt, không lẫn lộn cá tính giữa các nhân vật.
  Thuận có cách nhìn hiện thực, từng nếm trải nhiều đắng cay của cuộc sống xa xứ trong sự mặc cảm của con người di dân nhỏ bé
    3. Kết luận :  Nghệ thuật trần thuật đa dạng, thể hiện sự cách tân trong nghệ thuật trần thuật. Điểm nhìn trần thuật của các tác giả luôn di chuyển trong không gian và thời gian, giữa các nhân vật kết hợp nhiều điểm nhìn khác nhau để soi chiếu lẫn nhau. Khi trần thuật, Thuận chọn người kể chuyện ở ngôi thứ ba để có giọng kể khách quan hơn. Vì vậy, “Paris 11 tháng 8” đậm chất hiện thực, tạo độ tin cậy cao, phản ánh được bản chất vốn có của sự vật, sự việc. Giọng điệu của “Paris 11 tháng 8” là giọng điệu lạnh lùng của lí trí, không khoan nhượng trước những tiêu cực của cuộc sống. Chính vì vậy, giọng điệu chủ yếu ở đây là châm biếm, hài hước lẫn chua cay. Nhờ giọng điệu ấy mà tác phẩm có ý nghĩa phê phán khá sâu sắc
Tuy chưa đạt đến độ sắc sảo, mẫu mực nhưng đã góp được một tiếng nói riêng thể hiện cá tính sáng tạo của nhà văn. Giọng điệu và ngôn ngữ có nhiều mới lạ mang âm hưởng của lối viết hiện đại. Nghệ thuật trần thuật ấy đã đem lại cho tác phẩm một cái nhìn, một sự đánh giá chân thực về con người và xã hội đã thật sự thổi hồn vào nhân vật, làm cho nhân vật trở nên gần gũi với đời thường hơn, sinh động hơn.
                                     
                          * Tài liệu tham khảo
1. http://vietbao.vn/Van-hoa/Thuan-va-Paris-11-thang-8/40123385/105/
2.http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n4nmnvn2n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1
          3. TS Lê Thị Hải Vân,Văn Kết Hợp Báo Trong Tiểu Thuyết “Pa Ri 11 Tháng 8” Của Thuận (tiểu luận)
            4.Thuận – Tôi đề nghị một lối đọc không thụ động- Báo Văn nghệ trẻ, số 38/2005
            5.Phạm Xuân Nguyên- http://www.tathy.com/thanglong/showthread.php


Ngôn ngữ thân thể trong tiểu thuyết "Mẫu Thượng Ngàn" của Nguyễn Xuân Khánh

Học Viên: Nguyễn Văn Thông

Lớp: Cao Học

Ngành Văn Học Việt Nam K15

 

Chuyên đề: Những vấn đề cơ bản của Văn Xuôi Việt Nam từ 1975 đến nay.

 

 

Ngôn ngữ thân thể trong tiểu thuyết "Mẫu Thượng Ngàn" của Nguyễn Xuân Khánh

 

Thân thể không còn là phạm trù của phàm tục, tội lỗi phải che dấu mà được biểu hiện tự nhiên, kiêu hãnh. Có lúc thân thể trở thành ngôn ngữ của đọa đầy, trừng phạt, có lúc trở thành ngôn ngữ phản kháng, cự tuyệt và hy sinh, nhưng phần nhiều trở thành ngôn ngữ của sự thân mật, thức tỉnh, giải phóng và của vẻ đẹp trần gian. Ngôn ngữ thân thể được khai thác một cách mạnh bạo và đầy hấp dẫn trong văn học hiện đại Việt Nam đặc biệt từ sau 1986 đến nay.

Bản thân mỗi nhà văn, tùy theo tạng và sự chiêm nghiệm cuộc sống mà có thể khai thác những khía cạnh khác nhau trong “vỉa tầng” ngôn ngữ thân thể để phục vụ chủ đề tác phẩm. Đọc Mẫu thượng ngàn, ta nhận thấy yếu tố thân thể con người, đặc biệt là thân thể người phụ nữ đã làm thành nét đậm nổi trên trang văn Nguyễn Xuân Khánh. Đó là hiện tượng độc đáo hợp quy luật phát triển của tư duy tiểu thuyết hiện đại.
Quan tâm đến việc sử dụng ngôn ngữ thân thể trong sáng tác văn học, GS. Trần Đình Sử đã có bài viết “Ngôn ngữ thân thể - một phương diện văn hóa”  (Trường hợp Bích Khê) [10]. Theo tác giả, thân thể tự nó là một ngôn ngữ giao tiếp. Trong đời sống, thân thể (đầu, tóc, chân, tay, mắt, mũi, miệng, trái tim, cơ quan sinh dục…), cùng mọi động tác, cảm giác của thân thể (đi, chạy, cắn, hôn, đau, nhức…) đều có thể là ngôn ngữ giao tiếp của con người. Ngoài thân thể trực tiếp, toàn thể vũ trụ, thiên nhiên, đồ vật cũng trở thành thân thể gián tiếp của con người và cũng trở thành ngôn ngữ giao tiếp thông qua các ẩn dụ, nhân hóa. “Đối với văn học, thân thể là thân thể sống, nhưng không giản đơn là thân xác, xác thịt. Xem thân thể chỉ là xác thịt, có nghĩa là thu hẹp nó, tầm thường hóa nó. Trong con người sống, thân thể thấm nhuần tâm hồn. Chỉ xác thịt không phải là thân thể người, tính dục cũng không phải là thân thể người. Chỉ có cảm xúc tâm hồn mới biến thân thể thành ngôn ngữ”.

Trong văn học trung đại, việc miêu tả vẻ đẹp thân thể thường mang tính ước lệ: “Làn thu thủy, nét xuân sơn”, hoặc “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang”. Các tác giả không miêu tả thân thể trực diện mà hay sử dụng cách nói bóng gió: “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà / Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” (Nguyễn Du). Nhiều khi lại được ngụy trang bằng những ẩn dụ kín đáo: “Đôi gò bòng đảo sương còn ngậm / Một lạch đào nguyên suối chửa thông” (Hồ Xuân Hương).

Trong Mẫu thượng ngàn, khi xây dựng những nhân vật nữ, Nguyễn Xuân Khánh đã thường xuyên sử dụng ngôn ngữ thân thể để làm toát lên vẻ đẹp của họ. Mỗi người một vẻ, nhưng tất cả đều căng tràn sức sống. Họ là biểu tượng cho vẻ đẹp cứu rỗi. Cô Ngát (Tổ cô) mang vẻ đẹp thánh thiện, hoàn mỹ: “… đôi mắt to và dài. Đôi môi mỏng, không tô điểm mà vẫn đỏ đắn. Cái mũi dọc dừa xinh xinh, vóc dáng thắt đáy lưng ong. Trông bà ta như một bức tranh tố nữ màu, một thứ màu sắc đạm bạc, nền nã nhưng nổi bật” [8, tr.108]. Cô bé Nhụ ở cái tuổi “chum chúm núm cau” mang vẻ đẹp trinh khiết vô ngần, vẻ đẹp của con nai tơ mới lớn, “tiếng cười lanh canh như pha lê” [8, tr.12], “tấm lưng trần trắng muốt” [8, tr.639]. Cô mõ Hoa khốn khổ là mẫu hình của một giai nhân phương Đông: “Cô có khuôn mặt tròn vành vạnh như trăng rằm. Môi chẳng tô son mà sao đỏ thế. Đôi lông mày không to không nhỏ, mịn màng, đen láy, hơi cong cong… Hoa là người hễ có mặt ở đâu là nơi ấy tươi tắn hẳn lên” [8, tr.649-950]…
Viết về những người phụ nữ, Nguyễn Xuân Khánh đặc biệt chú ý tới hình ảnh đôi vú và làn da. Với hình tượng , tác giả muốn ca ngợi vẻ đẹp tràn đầy chất phồn thực ở họ. Cô Ngơ với “đôi vú quá cỡ làm chiếc yếm luôn hếch ra, làm đôi vú thường nửa kín, nửa hở” [8, tr.159-160], “cái vú vừa to, vừa dài, giống quả mít không có gai. Quả mít trắng núng nính” [8, tr.161]. Hai cái vú bánh dày xinh đẹp, đồng trinh của Nhụ đã khiến Julien thèm khát và nổi cơn thú tính. Dưới ánh trăng, đôi vú ngọc ngà của thím Pháo đã lay động tâm hồn cằn cỗi của ông hộ Hiếu, làm cho cuộc tình của hai sinh linh côi cút càng thêm nhiều dư vị… Qua hình ảnh vú, nhà văn cũng muốn khẳng định thiên chức duy trì, bảo tồn và tái sinh sự sống của người phụ nữ. Đôi vú người đàn bà đầy ắp tình thương yêu đã ban tặng sự sống cho những thân phận đang mòn mỏi lụi tàn (ba Váy dành cho Lý Cỏn, bà Tổ cô dành cho trưởng Cam, thím Pháo dành cho Hộ Hiếu…). Đó là cái bản năng mang tính Mẫu được kết tinh trong mỗi người vợ, người mẹ Việt Nam.
Trong Mẫu thượng ngàn, thân thể hiện ra trong tất cả vẻ đẹp tự nhiên, đầy cám dỗ. Nó có sức gợi tình, sức thôi miên mãnh liệt. Trên nhiều trang văn, thân thể gắn liền với cảm xúc dục tình đã được tác giả miêu tả một cách tươi rói. Người đọc khó có thể hình dung được cha đẻ của những dòng viết ấy lại là một ông lão đã ở độ tuổi “thất thập cổ lai hy”. Trong cảm nhận của người Tây Âu, người đàn bà Việt sở hữu một làn da và một thân hình kỳ diệu. “Làn da ấy đặc biệt không thô, nó mịn màng, mát dịu khi ta chạm tay vào. Đó là thứ da dẻ luôn mời mọc ta ve vuốt. Thân hình của họ tuy bé nhỏ nhưng chắc và lẳn, một thứ thân hình hài hòa đầy sức bật, sức sống, hứa hẹn những thú vui không biết mệt mỏi. Trên giường ngủ họ quấn quýt, quằn quại như hút chặt lấy ta, cho cảm giác như một con trăn nhẹ nhàng quấn tròn lấy ta trong nhịp giao hoan” [8, tr.355]. Thân thể người phụ nữ với vẻ đẹp ban sơ đã tạo ra sức chinh phục nam tính. Cái làn da trinh bạch của Nhụ được tắm tưới bởi ánh trăng đã khiến Điều như cuồng dại. Lý Cỏn mê mẩn ba Váy bởi “cái mặt xinh xinh đôn hậu, khoái ở cái làn da trắng bóc, trắng nhễ nhại, trắng hồng hào” [8, tr.575]. Tẻo trong cơn hấp hối vẫn không thôi đắm đuối trước vẻ đẹp của Mùi: “Cái thân xác trắng ngát, mĩ miều… lồ lộ… lấp loáng trong ánh đèn dầu lạc” [8, tr.252].
Thân thể không đơn giản là xác thịt mà còn chứa đựng cả cảm xúc, tâm hồn. Nó mang trong mình sức sống và có thể cảm hóa con người. Là một người có “máu lạnh”, đầu óc thực tế, nhưng trải qua những cuộc tình với người đàn bà bản xứ, đã có những phút giây Julien trở về với lương tri. “Cái đó kích thích tôi, thu hút tôi. Phải chăng vì da thịt thơm tho? Một mùi thơm thiên nhiên. Nó man mác như mùi hoa phong lan rừng ban đêm. Phải chăng còn vì thân hình bé nhỏ như búp bê của họ? Đó là thứ búp bê dai dẳng. Cảm giác lúc ấy là thứ cảm giác chặt chẽ, nó xiết lấy ta làm cho ta ngộp thở. Ta bỗng trở nên nhỏ bé lại, đúng, ta bỗng trở nên chú bé tí hon. Ta thăm thẳm chuồi vào ấu thơ… Và tôi cảm thấy thán phục họ, người đàn bà bản xứ. Cái sinh vật nhỏ thó xinh xinh ấy lấy đâu ra mà tràn trề sinh lực thế nhỉ?” [8, tr.720]. Philippe là một người bản lĩnh, khôn khéo trong cách ứng xử và thông minh trong việc định hoạch công việc. Ân ái với người đàn bà xứ Đông Dương, ông luôn khao khát được hưởng niềm hoan lạc trọn vẹn. Mùi đã mang lại cho Philippe cảm giác đó. Ông đã nhận ra cái hấp lực diệu kỳ từ đồng cô làng Đình: “Da thịt Mùi thì thơm. Mớ tóc dài thì ngan ngát hắc. Hố nách Mùi thì ngầy ngậy. Vú của Mùi lại thơm và ngọt. Bụng của Mùi là tổng hợp của những mùi vị đó, thêm vào cái ngai ngái nồng nàn, mời gọi âu yếm. Hắn lim dim mắt để cái ngai ngái ấy bò dần trong mũi, kính thích những vùng não bộ tối mò nhất trong hắn gọi chúng thức dậy” [8, tr.383]. Toàn thân Mùi như một đóa hoa đêm mang thứ hương vị tình ái phương Đông đã biến Philippe từ một gã Conquistador (kẻ chinh phục) trở thành một con người hòa ái. Nguyễn Xuân Khánh đã khai thác triệt để con người tự nhiên, bản năng để chuyển tải tư tưởng của mình: vẻ đẹp, sức quyến rũ của người đàn bà là hình ảnh tượng tưng cho “sức sống Việt, Dân tộc Việt, con người đất Việt”.
Ngôn ngữ thân thể trong Mẫu thượng ngàn mang tính chất lưỡng tính, vừa là thân thể, vừa là tâm hồn, “là sự thể nghiệm tâm hồn thân thể hóa”. Nó đã giúp nhà văn nhìn ra vẻ đẹp trần gian nơi con người. Và đặc biệt, trong nó còn ẩn chìm cái bề sâu của nền văn hóa Việt tràn đầy sức sống.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Trần Thị An (2007), “Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết Mẫu Thượng Ngàn”, Tạp chí Văn học,(6), tr.27-47.
2.Đoàn Ánh Dương (2010), “Tự sự hậu thực dân: lịch sử và huyền thoại trong tiểu thuyết Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh”, Tạp chí Văn học, (9), tr.27-47.
3.Nguyễn Xuân Khánh (2006), Mẫu thượng ngàn, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
4.Đỗ Hải Ninh (2009), “Quan niệm về lịch sử trong tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh”, Tạp chí Văn học, (2), tr.48-57.
5.Trần Đình Sử, “Ngôn ngữ thân thể - một phương diện văn hoá (trường hợp Bích Khê)”, www.bichkhe.org.
6.Chu Minh Vũ, “Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: đề cập đến nhục cảm không có gì là xấu”, www.vietbao.vn,21/07/2006.


Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

Địa chỉ, số điện thoại, email các báo, tạp chí chuyên về văn học trong cả nước



Địa chỉ, số điện thoại, email các báo, tạp chí chuyên về văn học trong cả nước
 
Tạp chí Văn Nghệ Bến TreTòa soạn: số 2 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thị xã Bến Tre
Điện thoại: 075.822476

Địa chỉ, số điện thoại, email các báo, tạp chí chuyên về văn học trong cả nước
 
Tạp chí Văn Nghệ Bến TreTòa soạn: số 2 - Trần Quốc Tuấn - Phường 2 - Thị xã Bến Tre
Điện thoại: 075.822476
Tuần báo Văn Nghệ - Hội nhà văn Việt NamTòa soạn: 17 - Trần Quốc Toản - TP. Hà Nội
Văn phòng phía Nam: 43 - Đồng Khởi - Quận 1 - TP. Hồ Chí Minh
Văn phòng miền Trung: 34 - Ông Ích Khiêm - TP. Đà Nẵng
Văn phòng Bắc miền Trung: đại lộ Lê Lợi - TP. Thanh Hóa
Văn phòng Nam Trung bộ: 292 - đường 2 tháng 4 - Nha Trang - Khánh Hòa
Điện thoại: 04.9439619
Email: 
Banthukyvn@netnam.vn
Tạp chí THƠTòa soạn: 9 - Nguyễn Đình Chiểu - TP. Hà Nội
Điện thoại: 04.9438072; 04.9454846
Email: 
tap_chi_tho@yahoo.com.vn
Tạp chí Văn học nước ngoàiTòa soạn: 9 - Nguyễn Đình Chiểu - TP. Hà Nội
Điện thoại: 04.9430366; 04.8225911; 04.9438476
Tạp chí Khoa học Xã hộiTòa soạn: 49 - Nguyễn Thị Minh Khai - Quận 1 - TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.8241929; 08.8223141
Email: 
khxh@hcm.vnn.vn
Tạp chí Bông SenTòa soạn: 106 - Bùi Thị Trường - TP. Cà Mau
Thường trực: 310/25 - đường 30 tháng 4 - TP. Cần Thơ
Điện thoại: 0780.831305; 071.838644
Email: 
lechi@vannghesongcuulong.org
Tạp chí Nhà vănTòa soạn: 65 - Nguyễn Du - TP. Hà Nội
Điện thoại: 04.9423111; 04.9420885
Email:
 tapchinhavan@netnam.vn  
Tạp chí Văn nghệ Quân độiTòa soạn: 4 - Lý Nam Đế - TP. Hà Nội
Thường trực phía Nam: 1 - Kỳ Đồng - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
Email:
 vannghe_qd@pmail.vnn.vn
Tạp chí VănTòa soạn: 81 - Trần Quốc Thảo - Quận 3 - TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.8224686
Tạp chí Văn nghệ Công nhânTòa soạn: 175 - Giảng Võ - TP. Hà Nội
Điện thoại: 04.5120723
Email: 
tapchivncn@hn.vnn.vn
Tuần báo Văn nghệ TrẻTòa soạn: 17- Trần Quốc Toản - TP. Hà Nội
Điện thoại: 04.9430183
Email: 
vannghetre@netnam.vn
Báo Văn nghệ Công anTòa soạn: 66 - Thợ Nhuộm - TP. Hà Nội
Email: 
vannghecongan@hn.vnn.vn
Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt NamTòa soạn: 51 - Trần Hưng Đạo - Quận Hoàn Kiếm - TP. Hà Nội
Email: 
diendanvnvn@yahoo.com
Tạp chí Thất SơnTòa soạn: 43 - Nguyễn Văn Cưng - TP. Long Xuyên - tỉnh An Giang
Điện thoại: 076.845586
Email: 
vanngheag@hcm.vnn.vn
Tạp chí Văn nghệ Châu ĐốcTòa soạn: 32 - Nguyễn Văn Thoại - Thị xã Châu Đốc -  tỉnh An Giang
Điện thoại: 076.866321
Báo Văn nghệ Vũng TàuTòa soạn: 23 - Huỳnh Khương Ninh - TP. Vũng Tàu
Điện thoại: 064.854394
Tạp chí Văn nghệ Bạc LiêuTòa soạn: 58 - Lý Tự Trọng - Phường 3 - Thị xã Bạc Liêu
Điện thoại: 0781.824570
Email: 
hoivannghe_baclieu@yahoo.com
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bắc GiangVăn phòng: 63 - Nguyễn Văn Cừ - Thị xã Bắc Giang
Điện thoại: 0240.854480; 0240.852606
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bắc KạnVăn phòng: Phòng 2, 3 - Dãy 1 - Tầng 1 - Trụ sở UBND tỉnh Bắc Kạn
Điện thoại: 0281.872653
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Bắc NinhVăn phòng: 366 - Ngô Gia Tự - Phường Tiền An - Thị xã Bắc Ninh
Điện thoại: 0241.820940
Báo Văn nghệ Bình DươngTòa soạn: 52 - Bạch Đằng - Thị xã Thủ Dầu Một - tỉnh Bình Dương
Điện thoại: 0650.822663
Tạp chí Văn nghệ Bình ĐịnhTòa soạn: 103 - Phan Bội Châu - TP. Quy Nhơn - tỉnh Bình Định
Điện thoại: 056.825257; 056.822157; 056.816212
Tạp chí Văn nghệ Bình ThuậnTòa soạn: 6 - Nguyễn Tri Phương - TP. Phan Thiết - tỉnh Bình Thuận
Điện thoại: 062.818782
Tạp chí Bán đảo Cà MauTòa soạn: 5 - Lưu Tấn Tài - Phường 5 - TP. Cà Mau
Điện thoại: 0780.831174; 0780.831640
Email: 
tapchibandaocamau@yahoo.com.vn
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Cao BằngVăn phòng: phố Hoàng Như - Thị xã Cao Bằng
Điện thoại: 026.852388
Báo Văn nghệ Cần ThơTòa soạn: 170 - Lý Tự Trọng - TP. Cần Thơ
Điện thoại: 071.830403
Email: 
vannghecantho@vnn.vn
Tạp chí Non NướcTòa soạn: K54/10 - Ông Ích Khiêm - TP. Đà Nẵng
Điện thoại: 0511.821434
Tạp chí Chư Yang SinTòa soạn: 172 - Điện Biên Phủ - TP. Buôn Ma Thuột - tỉnh Đắc Lắc
Điện thoại: 050.852641
Email: 
cuyangsindaklak@vnn.vn
Tạp chí Sông PhốTòa soạn: 30 - Quốc lộ 1 - Phường Tân Tiến - TP. Biên Hòa - tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 061.822992; 061.816703
Báo Văn nghệ Đồng ThápTòa soạn: đường Lý Thường Kiệt - Phường 1 - Thị xã Cao Lãnh - tỉnh Đồng Tháp
Điện thoại: 067.853640
Tạp chí Văn nghệ Gia LaiTòa soạn: 30 - Nguyễn Du - TP. Pleiku - tỉnh Gia Lai
Điện thoại: 059.824679
Email: 
vannghegl@dng.vnn.vn
Tạp chí Văn nghệ Hà GiangTòa soạn: 4 - Bạch Đằng - Phường Nguyễn Trãi - Thị xã Hà Giang
Điện thoại: 019.866555
Tạp chí Sông ChâuTòa soạn: đường Trường Chinh - Thị xã Phủ Lý - tỉnh Hà Nam
Điện thoại: 0351.852690
Báo Người Hà NộiTòa soạn: 19 - Hàng Buồm - Quận Hoàn Kiếm - TP. Hà Nội
Điện thoại: 04.8256961; 04.8282076; 04.9281573
Tạp chí Tản Viên SơnTòa soạn: 112 - Quang Trung - Thị xã Hà Đông - tỉnh Hà Tây
Điện thoại: 034.501111
Tạp chí Hồng LĩnhTòa soạn: 79 - Phan Đình Phùng - Thị xã Hà Tĩnh
Điện thoại: 039.855345; 039.858051
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Hải DươngVăn phòng: 66 - Quang Trung - TP. Hải Dương
Điện thoại: 0320.852664
Tạp chí Cửa BiểnTòa soạn: 19 - Trần Hưng Đạo - TP. Hải Phòng
Điện thoại: 031.745876
Báo Văn nghệ Hòa BìnhTòa soạn: đường An Dương Vương - Phường Phương Lâm - Thị xã Hòa Bình
Điện thoại: 018.854570
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Hưng YênVăn phòng: đường Bãi Sậy - Thị xã Hưng Yên
Điện thoại: 0321.863533
Tạp chí Nha TrangTòa soạn: 34 - Yersin - TP. Nha Trang - tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.822832; 058.815711
Tạp chí Chiêu Anh CácTòa soạn: 380 - Nguyễn Trung Trực - TP. Rạch Giá - tỉnh Kiên Giang
Điện thoại: 077.862164
Email: 
chieuanhcac_kg@hopthu.com
Tạp chí Văn nghệ Kon TumTòa soạn: 25 - Trần Cao Vân - Thị xã Kon Tum
Điện thoại: 060.861201
Tạp chí Xứ LạngTòa soạn: 21 - Cửa Đông - Thị xã Lạng Sơn
Điện thoại: 025.812231
Tạp chí Văn nghệ Lào CaiTòa soạn: 579 - Hoàng Liên - Phường Kim Tân - Thị xã Lào Cai
Điện thoại: 020.844820
Email: 
tapchivannghelaocai@yahoo.com.sg
Tạp chí Lang BianTòa soạn: 2 - Nguyễn Du - TP. Đà Lạt - tỉnh Lâm Đồng
Điện thoại: 063.823183; 063.827856
Email: 
tapchilangbian@vnn.vn
Tạp chí Văn nghệ Long AnTòa soạn: 44 - Nguyễn Huệ - Phường 1 - Thị xã Tân An - tỉnh Long An
Điện thoại: 072.826355
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Nam ĐịnhVăn phòng: 171 - Trần Hưng Đạo - TP. Nam Định
Điện thoại: 0350.849430
Tạp chí Sông LamTòa soạn: 76 - Nguyễn Thị Minh Khai - TP. Vinh - tỉnh Nghệ An
Điện thoại: 038.833261
Email: 
tcsonglam@hn.vnn.vn
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Ninh BìnhVăn phòng: đường Lê Hồng Phong - Thị xã Ninh Bình
Điện thoại: 030.871233
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Ninh ThuậnVăn phòng: 28 - Tô Hiệu - Thị xã Phan Rang - Tháp Chàm - tỉnh Ninh Thuận
Điện thoại: 068.830856
Tạp chí Văn nghệ Đất TổTòa soạn: đường Lê Quý Đôn - Phường Gia Cẩm - TP. Việt Trì - tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210.847337
Tạp chí Văn nghệ Phú YênTòa soạn: 15 - Tự Do - Thị xã Tuy Hòa - tỉnh Phú Yên
Điện thoại: 057.827636
Tạp chí Nhật LệTòa soạn: đường Đoàn Thị Điểm - Thị xã Đồng Hới - tỉnh Quảng Bình
Điện thoại: 052.822958
Tạp chí Đất QuảngTòa soạn: 46 - Tiểu La - Thị xã Tam Kỳ - tỉnh Quảng Nam
Điện thoại: 0510.859205
Tạp chí Văn nghệ Quảng NgãiTòa soạn: 68 - Hùng Vương - Thị xã Quảng Ngãi
Điện thoại: 055.826790; 055.826800
Báo Hạ LongTòa soạn: 90 - Lê Thánh Tông - TP. Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh
Điện thoại: 033.825781
Tạp chí Cửa ViệtTòa soạn: 128 - Trần Hưng Đạo - Thị xã Đông Hà - tỉnh Quảng Trị
Điện thoại: 053.851901
Tạp chí Văn nghệ Sóc TrăngTòa soạn: 227 - Nguyễn Huệ - Thị xã Sóc Trăng
Điện thoại: 079.821933
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Sơn LaVăn phòng: đường Nguyễn Lương Bằng - Phường Quyết Thắng - Thị xã Sơn La
Điện thoại: 022.855813
Tạp chí Văn nghệ Tây NinhTòa soạn: 16A4 - Cách mạng tháng Tám - Phường 1 - Thị xã Tây Ninh
Điện thoại: 066.820637
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái BìnhVăn phòng: 26 - Quang Trung - Thị xã Thái Bình
Điện thoại: 036.838426
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thái NguyênVăn phòng: phường Trưng Vương - TP. Thái Nguyên
Điện thoại: 0280.855513; 0280.858312
Tạp chí Văn nghệ Xứ ThanhTòa soạn: 25 - Cửa Tả - TP. Thanh Hóa
Điện thoại: 037.859400
Tạp chí Sông HươngTòa soạn: 5 - Phạm Hồng Thái - TP. Huế
Điện thoại: 054.822338
Tạp chí Văn nghệ Tiền GiangTòa soạn: 3 - Lê Lợi - TP. Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang
Điện thoại: 073.872221
Email: 
vannghetiengiang@vnn.vn
Tạp chí Văn nghệ Trà VinhTòa soạn: 52A - Phạm Ngũ Lão - Phường 1 - Thị xã Trà Vinh
Điện thoại: 074.862737
Báo Tân TràoTòa soạn: đường 17 tháng 8 - Phường Phan Thiết - Thị xã Tuyên Quang
Điện thoại: 027.823508
Tạp chí Văn nghệ Vĩnh LongTòa soạn: 6 - Hưng Đạo Vương - Phường 1 - Thị xã Vĩnh Long
Điện thoại: 070.822325
Tạp chí Văn nghệ Vĩnh PhúcTòa soạn: Phường Đống Đa - Thị xã Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
Điện thoại: 0211.860995
Tạp chí Văn nghệ Hậu GiangTòa soạn: Khu hành chính 406, KV3 - Phường 5 - thị xã Vị Thanh - tỉnh Hậu Giang
Điện thoại: 071.580477
(Còn sưu tầm tiếp....)
* Nguồn: Vuhong.com